|
CÓ VỀ QUÊ BƯỞI VỚI ANH…
Hỡi cô thắt lưng bao xanh Có về quê Bưởi với anh thì về Quê anh có lịch có lề Có sông tắm mát có nghề can seo
Câu ca khiêm tốn ấy của cha ông chúng tôi là để mời cô gái trong tưởng tượng, mà thực ra là khách thập phương, về một vùng quê chỉ có tên chứ không lưu lại trên bản đồ như một địa danh chính thức. Chỉ vậy, mà những người bạn thân của vùng Bưởi sẽ bỏ công đi theo đường Thụy Khuê gặp trường Bưởi (Chu Văn An), làng Bưởi, chợ Bưởi. Xa hơn nữa, các làng thuộc Nghĩa Đô cũng nằm trong vùng này. Có đến tận nơi mới biết đây là một vùng kinh tế, vùng của các làng nghề; và cao hơn, sâu hơn, là một vùng làng nghề, với những con người sống đầy khí phách. Nói đây là một vùng kinh tế bởi tuy rằng chợ Bưởi không phải chợ đầu ô, nhưng cũng lại là một chợ đầu mối, nổi tiếng từ xưa đến nay. Người kinh thành từ lâu đã biết chợ Bưởi tháng sáu phiên, họp vào các ngày bốn, ngày chín. Mỗi lần thế, người từ bên Bắc, từ Đông Ngàn qua bến đò Xù đến với chợ Bưởi, có người từ trấn Sơn Tây dọc theo con đường thiên lý qua lối rẽ Cổ Nhuế quẩy thúng đến, người từ Hà Đông đi theo đường thành Đại La, nay là đường Bưởi mà lên. Hội tụ lại đủ thứ nông sản, mọi thứ hàng tiểu thủ công và dịch vụ nên chợ Bưởi phiên nào cũng tấp nập. Người ta có thể tìm mua ở đây tờ tranh Đông Hồ, cành đào Nhật Tân về bày Tết, hay mua tấm lĩnh hoa chanh, tập giấy bản trắng mịn như ngà. Những cô gái bán hàng nền nã mời khách mua hàng, nền nã cảm ơn và hẹn mời phiên sau lại tới. Lĩnh Bưởi và giấy Bưởi đã đi vào ca dao một thời, vào tâm khảm người dân. Nhắn ai trẩy hội kinh thành Mua cho tấm lĩnh hoa chanh đem về Mấy ai giờ còn nhớ, còn biết đến câu ấy, hay là cái câu cô gái làng giấy nói nhún với khách: Người ta buôn vạn bán ngàn Thân em làm giấy cơ hàn vẫn vui Dám xin nho sĩ chớ cười Bởi em làm giấy để người chép thơ Còn nói đây là một làng nghề, bởi 500 năm trước, cụ Nguyễn Trãi đã ghi trong “Dư địa chí” rằng “Phường Yên Thái huyện Quảng Đức làm giấy”. “Việt sử lược” đưa những chứng cứ về nghề làm giấy tại Thăng Long có từ rất xưa: “Năm 1215 vua Huệ Tông cùng mẹ cạo đầu từ dinh Thái Hòa đến nhà viên quan là Đỗ Ban ở ngõ Chỉ Tác (ngõ làm giấy) cạnh cầu Tây Dương để dựng thảo điện đi tu”. Vậy là nghề giấy đã giúp cho các sĩ tử thời Lý có cái dùng để viết bài thi, nhưng rồi chính các làng vùng Yên Hòa không giữ được nghề, không làm cho nghề phồn thịnh, mà ba làng vùng Bưởi lại tiếp thu được, nhân lên. Giải thích về chuyện này, nhà bác học Lê Quý Đôn viết trong Vân Đài Loại ngữ rằng: “Các trấn Sơn Tây - Tuyên Quang - Hưng Hóa, Lương Sơn trồng nhiều cây dó. Giống dó dễ trồng, dễ lớn, hai năm thành cây lấy được vỏ khá nhiều, người huyện Quảng Đức (chỉ các làng Yên Thái, Hồ Khẩu) lấy vỏ cây dó thì dễ kiếm mà rẻ”. Thì ra đọc lại sách của ông cha, ta mới hiểu vì sao nghề giấy ở Yên Thái phát triển hơn Yên Hòa, bởi vì vùng Bưởi đã biết tìm nguyên liệu dễ kiếm mà rẻ, biết cải tiến kĩ thuật, dùng cây dó làm ra giấy bản. Các cụ lại biết phân công sản xuất giữa các làng, Hồ Khẩu, An Thái làm giấy bản, Đông Xã làm giấy quỳ, Nghĩa Đô làm giấy sắc. Hơn nữa, nơi đây lại thuận tiện về giao thông, nguyên liệu tập hợp về, sản phẩm phân phối đi các tỉnh đều dễ dàng. Giấy bản đã thành mặt hàng của Nhà nước, có vai trò quan trọng không những dưới thời phong kiến mà trong ba mươi năm binh lửa gần đây, còn góp hàng triệu tấn để sử dụng trong giáo dục và hành chính. Ngoài các làng giấy, vùng Bưởi còn có một nghề đã vang danh, là dệt lĩnh ở Trích Sài. Truyền thuyết tại Trích Sài và bia kí cho biết ngày xưa làng nghèo lắm, dân chỉ có kiếm củi (trích sài) mà sống. Rồi vua Lê Thánh Tông đem quân đi đánh vua Chiêm Thành là Trà Toàn, chiếm lấy những vùng đất đặt là Thừa huyện sứ Quảng Nam. Trên vùng đất mới này, người dân học được nghề dệt vóc, sa, lĩnh gấm đời đời truyền nhau. Trong cuộc Nam tiến đó, Lê Thánh Tông đã tuyển chọn một người con gái làm phi tử là bà Phan Thị Ngọc Đô đã đẹp người lại giỏi nghề. Vua đem bà phi cùng 24 tì nữ ra Bắc, nhưng cận thần ở Thăng Long có ý không đồng tình, bèn đưa ra Trích Sài lập Thiên Niên Trang. Sử sách không ghi lại việc này, nhưng bia kí tại chùa Thiên Niên và điện Huy Văn có câu: “Lê Thánh Tông Thuần hoàng đế chinh chiến Chiêm Thành, Phan Thị Ngọc Đô nãi thị Quảng Nam nhân, dự tuyện nhập thị, cấp tì nữ nhị thập tứ nhân nghẹ vu Thăng Long thành – nhập bạ Trích Sài”. Thế là bà phi Phan Thị Ngọc Đô, từ một người con gái đẹp của đất Quảng Nam theo vua ra Bắc trở thành người dân của trang Thiên Niên, sống với dân làng Trích Sài. Vốn là người lao động, bà thương cảm những cảnh đời éo le, mang hết số ruộng lộc của mình cấp cho dân, lại dạy họ nghề dệt. Thần tích địa phương kể rằng bà đã bỏ tiền của, thuê thợ làm khung, lại tự mình cùng các tỳ nữ đi tìm tơ mua sợi, hướng dẫn dân làng dệt lĩnh. Người dân nắm được nghề thì bà đến kì sinh nở, chẳng may qua đời, được tôn làm Tổ nghề, lập điện Huy Văn để thờ. Lĩnh Bưởi ngày một hoàn thiện và trở nên nổi tiếng từ đó. Lĩnh Bưởi là mặt hàng mềm mại, óng mượt, quý phái, quyến rũ. Khi mặc vào, đường nét thân thể người phụ nữ được phô bày, tôn lên. Hơn sáu mươi năm qua, không còn người dệt lĩnh, mà bà Phùng Thị Trường, Việt kiều ở Mỹ còn gửi về bài thơ hồi tưởng.
Thầy mẹ nuôi ta ở tấm hàng Tơ tằm lĩnh Bưởi mượt như nhung Bao nhiêu công khó tơ nên lĩnh Mẹ đứng làm hồ, bố dệt khung.
Nguồn: Báo Hà Nội Mới
|