|
GIẢI PHÁP SỐ HÓA X QUANG CÔNG NGHỆ CẢM BIẾN BẢN PHẲNG TẠI VIỆT NAM
I. Lịch sử phát triển của X quang trong y tế: Tia X đã được ứng dụng vào việc chụp ảnh để chẩn đoán trong ngành Y tế hơn bảy mươi năm qua. Công việc chụp X quang bao gồm 2 công đoạn: Phát ra tia X và chuyển đổi tia X thành hình ảnh có nhiều thay đổi và mang tính cách mạng: II. Quá trình du nhập vào Việt Nam của công nghệ số hóa XQ: Công nghệ CR đã được sử dụng tại VN vào những năm đầu thế kỷ 21 (Trung tâm MEDIC TP HCM, BV Chợ Rẫy, Bạch Mai…). Sau đó công nghệ CCD Camera cũng đã được sử dụng tại một số bệnh viện tư nhân và tuyến huyện nhưng do chất lượng và độ chính xác của hình ảnh không cao nên nó đã không được các nhà chuyên môn quan tâm đến. Đầu năm 2005, trung tâm MEDIC đã bắt đầu đưa vào sử dụng công nghệ mới FPD lần đầu tiên ở Việt Nam. FDP – Flat Panel Detectỏ là công nghệ số hóa XQ hiện đại nhất ngày nay. Tại Hà Nội, từ tháng 10 năm 2008 đến tháng 2 năm 2009, Công ty TNHH Thiết Bị Việt Ba đã lắp đặt các hệ thống số hóa X quang công nghệ FPD đầu tiên: 1 hệ thống ở Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn, 3 hệ thống ở Bệnh viện Nhi Trung Ương và 2 hệ thống ở Bệnh viện Bạch Mai. Nhờ đặc tính tạo ra ảnh kỹ thuật số chất lượng cao trong thời gian rất ngắn (3 giây sau khi phát tia X), các hệ thống này đã ngay lập tức giải quyết được tình trạng quả tải bệnh nhân tại nơi chụp XQ. Ngoài ra, do không sử dụng Cassette nên công việc chụp XQ đã được đơn giản hóa, sức lao động và thời gian của các kỹ thuật viên XQ đã được giảm nhiều. III. Lợi ích thu được từ công nghệ FPD: - Trả kết quả nhanh nâng cao hiệu quả xử lý bệnh nhân nói chung và đặc biệt có hiệu quả đối với bệnh nhân cấp cứu. - Giải quyết nhanh gọn khối lượng công việc hàng ngày - Giảm 50% liều tia chụp cho bệnh nhân so với phương pháp tráng rửa phim - Chất lượng hình ảnh cao hơn các phương pháp: Tráng rửa phim, CR, CCD - Không cần buồng tối rửa phim, tận dụng được thêm diện tích sử dụng - Không sử dụng hóa chất rửa phim nên không gây ô nhiễm môi trường - Giảm tối đa công việc nặng nhọc cho Kỹ thuật viên như: Không phải vận chuyển cassette, không phải rửa phim trong buồng tối, không phải tiếp xúc với hóa chất rửa phim có hại cho sức khỏe… - Cho phép thiết lập hệ thống thông tin hình ảnh và tích hợp với các hệ thống thông tin khác trong bệnh viện, tiến tới triển khai dịch vụ chẩn đoán từ xa (Telemedicine).
|
Thế hệ
|
Bản chất của công nghệ hình ảnh ban đầu
|
Công cụ hiện thị ra đời
|
Thời gian
|
|
1.
|
Xử lý Cassette phim trong buồng tối (Screen Film)
|
Phim và đèn đọc phim
|
1930
|
|
2.
|
Xử lý Cassette Phosphore bằng tia Lazer (Computerd Radiography-CR)
|
Máy vi tính
|
1980
|
|
3.
|
Cảm biến CCD (Charge Couple Divices-DR/CCD Camera)
|
Máy vi tính
|
1985
|
|
4.
|
Cảm biến bản phẳng (Flat Panel Detector-DR/FPD)
|
Máy vi tính
|
1997
|
Bảng so sánh hai kiểu sản phẩm XQ kỹ thuật số công nghệ FPD
|
TT
|
Tiêu chí xem xét
|
Hệ thống XQ KTS đồng bộ
|
Giải pháp số hóa XQ sẵn có
|
|
1.
|
Thời gian trả kết quả
|
Nhanh
|
Nhanh
|
|
2.
|
Chất lượng hình ảnh
|
Cao
|
Cao
|
|
3.
|
Liều tia chụp
|
Giảm
|
Giảm
|
|
4.
|
Nhân công sử dụng
|
Ít
|
Ít
|
|
5.
|
Hoạt động
|
Ổn định
|
Ổn định
|
|
6.
|
Hình thức
|
Đẹp, hoàng tráng
|
Đẹp
|
|
7.
|
Giá trị đầu tư ban đầu
|
Cao
|
Hợp lý
|
IV. Lựa chọn kiểu sản phẩm: Để triển khai chụp X quang kỹ thuật số công nghệ FPD tại cơ sở y tế, có hai lựa chọn: Hệ thống XQ KTS đồng bộ và Giải pháp số hóa XQ sẵn có. Mỗi kiểu sản phẩm có một số đặc điểm khác nhau nhưng đều cho ra kết quả cuối cùng giống nhau là hình ảnh kỹ thuật số được tạo ra nhanh, chất lượng cao, liều tia chụp giảm… Nếu chọn công nghệ FPD làm tiêu chí lựa chọn kiểu sản phẩm thì rõ ràng kiểu sản phẩm “Giải pháp số hóa XQ sẵn có” sẽ có hiệu quả kinh tế hơn kiểu sản phẩm “Hệ thống XQKTS đồng bộ”. Mặt khác, đa số các cơ sở y tế ở Việt Nam đã được trang bị nhiều máy X quang thường quy còn sử dụng tốt nên nếu đầu tư “Hệ thống XQKTS đồng bộ” thì sẽ lãng phí nguồn lực sẵn có thậm chí còn tốn thêm diện tích đất và tiền đầu tư cho xây dựng phòng chụp XQ mới mà không thật sự cần thiết V. Kết luận: Với các lợi ích to lớn mà công nghệ cảm biến bản phẳng đã đem lại, giải pháp số hóa X quang sẵn có sẽ góp phần nâng cao hiệu quả xử lý bệnh nhân và từng bước giải quyết tình trạng quá tải ở nhiều bệnh viện trung ương hiện nay. Trong giai đoạn trước mắt, giải pháp trên có thể được triển khai tại các Bệnh viện từ tuyến tỉnh trở lên. Trong tương lai không xa, hy vọng các nhà quản lý Y tế quan tâm và tạo điều kiện để giải pháp này có thể được triển khai tại tất cả các cơ sở y tế ở Việt Nam.
Theo Khoa học và Công nghệ Thông tấn xã Việt Nam |