Title_left HỒ SƠ CHI TIẾT Title_right
 
Zoom
 
Nvls_s
Gt_qt
Gt_dp
Gt_dn
Gt_lucky_s
Banner-baochi-2018
No-logo XÃ HƯƠNG NỘN - HUYỆN TAM NÔNG - TỈNH PHÚ THỌ
Trụ sở: Xã Hương Nộn - Huyện Tam Nông - Tỉnh Phú Thọ
BẢNG VÀNG THÀNH TÍCH

Về tập thể:
Danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” thời kỳ kháng chiến chống Pháp cho cán bộ và nhân dân.
Huân chương Kháng chiến hạng Ba.
02 Huân chương chiến công hạng Ba.
01 Huân chương Lao động hạng Ba.
Chính phủ tặng Bằng khen về công tác bình dân học vụ (năm 1958).
Chính phủ tặng cờ thi đua xuất sắc.
Các cơ quan tổ chức của xã đã được Chính phủ tặng 12 Bằng khen.
Bộ Công an tặng cờ 5 năm phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc.
UBND tỉnh Phú Thọ tặng 1 kỷ niệm Chương Hùng Vương và 25 Bằng khen.
Về cá nhân:
03 người được tặng thưởng Huân chương Độc lập.
826 người được tặng thưởng Huân huy chương kháng chiến và hàng trăm danh hiệu cao quý khác.
03 bà mẹ liệt sỹ được truy tặng và phong tặng danh hiệu: “Bà Mẹ Việt Nam anh hùng” trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Và hàng trăm lượt cá nhân được Đảng, Chính phủ, các cấp, các ngành tặng thưởng nhiều phần thưởng và danh hiệu cao quý.

 

QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ TRƯỞNG THÀNH

Đặc điểm - Tình hình của địa phương
Xã Hương Nộn ngày nay là một xã thuộc miền núi thấp của huyện Tam Nông. Sau cách mạng tháng 8/1945, xã Hương Nộn được thành lập tên gọi là xã Mê Linh gồm 6 thôn: Đức Phong, Hương Nộn, Bảo Vệ Thượng, Bảo Vệ Hạ, Hạ Nậu và Thọ Sơn.
Năm 1948 thôn Đức Phong chuyển về xã Cổ Tiết. Năm 1954 sáp nhập thôn Hữu Hà, Kinh Châu, 11 hộ Sơn Lưu của xã Xứ Nhu (huyện Lâm Thao) vào xã Mê Linh. Năm 1966 xã Mê Linh được đổi tên thành xã Hương Nộn. Đến năm 1976 tách thôn Thọ Sơn về xã Dị Nậu. Từ đó tên gọi của xã và địa giới hành chính được giữ nguyên cho đến nay.
Điều kiện tự nhiên: Tổng diện tích đất đai tự nhiên của xã Hương Nộn là 893,16 ha. Trong đó đất nông nghiệp 426,38 ha, đất lâm nghiệp 134,46 ha, diện tích còn lại là các loại đất khác.
Phía Đông Bắc giáp huyện Lâm Thao dọc theo sông Hồng, phía Nam giáp thị trấn Hưng Hóa – huyện Tam Nông. Phía Tây Nam giáp xã Dị Nậu và xã Thọ Văn. Phía Tây và Tây Bắc giáp xã Cổ Tiết.
Đặc điểm dân cư:
Trước cách mạng tháng 8/1945 xã Hương Nộn có 445 hộ, 2774 nhân khẩu, tính đến năm 2001 xã có 1497 hộ, 6652 nhân khẩu. Có 85% làm nông nghiệp và các ngành nghề dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp, 15% là cán bộ công chức viên chức.
Thành tích qua các thời kỳ
I. Thành tích trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954)
+ Trước cách mạng thánh 8/1945 ở xã Hương Nộn: Ruộng đất hầu hết nằm trong tay tên địa chủ Vũ Huy Vĩ và nhà Trung, bình quân người dân chỉ có 95 m2 ruộng, hầu hết nông dân phải làm thuê, cấy mướn cho địa chủ. Thêm vào đó Nhật Pháp cấu kết với nhau, bắt nhân dân nhổ lúa trồng đay, trồng thầu dầu ve cho chúng, nạn đói năm 1945 làm cho 108 người dân chết đói, trong đó có 6 gia đình phải bỏ làng ra đi tha phương cầu thực không thấy trở về.
- Về văn hóa: Chỉ có 5 lớp hương sư, 1 lớp tổng sư dành cho nhà giàu 95% nhân dân mù chữ.
- Phong trào chống Pháp ở xã vào những năm 1929 – 1930 đều là phong trào tự phát, đáng chú ý năm 1930 phong trào chống Pháp của Nguyễn Thái Học, Xứ Nhu lãnh đạo. Cuộc khởi nghĩa của Xứ Nhu đêm 9/2/1930 đánh chiếm Hưng Hóa đã bị thất bại, chi bộ Quốc dân Đảng gòm 10 đảng viên ở Hương Nộn đã bị giặc bắt, 5 người bị đầy đi Côn Đảo, 2 người tù đều chết ở Hỏa Lò (Hà Nội), 3 người được mãn tù trở về (1941). Cuộc khởi nghĩa chống Pháp tuy thất bại nhưng đã rút bài học cho cách mạng của ta sau này.
+ Ảnh hưởng của Việt Minh, cuộc khởi nghĩa giành chính quyền cách mạng tháng 8/1945
- Phong trào cách mạng chuẩn bị tổng khởi nghĩa. Từ năm 1941 đến năm 1945 được mặt trận Việt Minh tuyên truyền giác ngộ phong trào cách mạng của địa phương. Mặt trận phản đế từ Cổ Tiết lan tới các xã trong đó có xã Hương Nộn. Từ thôn Kinh Châu nằm ở phía Nam của xã, 3 hội viên cứu Quốc đã tuyên truyền phong trào chống Pháp tới nhân dân Hương Nộn tháng 5 năm 1941. Hội nghị lần thứ 8 của TW đã nhận định kẻ thù lúc này là Nhật, Pháp. Chủ chương thành lập mặt trận Việt Minh, Hội phản đế nay chuyển thành Hội Cứu Quốc. Nhân dân xã Hương Nộn tham gia hội viên rất đông và do Sư thầy Kỷ trụ trì ở chùa Phúc Thánh phụ trách. Không khí chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền ở xã, ở huyện rất khẩn trương. Trước hết là dân nổi lên phá kho thóc của Nhật chia cho dân nghèo tại Hưng Hóa.
Ngày 9/3/1945, Nhật hất cẳng Pháp, Pháp rút chạy từ Sơn Tây, Hưng Hóa, Hương Nộn theo đường 15 đi Thanh Sơn. Dọc đường giặc Pháp vứt bỏ vũ khí, quân trang, quân dụng. Thanh niên Hương Nộn lúc đó đã thu nhặt số vũ khí đó cất dấu và nộp cho cách mạng. Một số thanh niên giác ngộ của Hương Nộn lúc đó tìm lên xã Đồng Lương (Cẩm Khê) sát nhập với mặt trận Việt Minh ở xã này, tham gia vào lực lượng tự vệ ở đây, sau đó tham gia đi tước vũ khí của quân Nhật tại Thị xã Phú Thọ.
Tháng 5 năm 1945 Mặt trận Việt Minh xã Kinh Kệ xử tử tên Phú Lý phản động; xã Đào Xá (Thanh Thủy) bắt và xử tử tên tri huyện. Bọn phản động thấy vậy rất hoang mang lo sợ; truyền đơn, biểu ngữ được gián khắp nơi kêu gọi nhân dân trang bị gậy gộc, giáo mác chuẩn bị chống Nhật, dành chính quyền.
Tháng 3 năm 1945, TW Đảng ra Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Hồ Chủ Tịch kêu gọi nhân dân cả nước đứng lên khởi nghĩa dành chính quyền. Chiều 18/8/1945, thanh niên Hương Nộn gồm một đoàn hàng trăm người về Hưng Hóa dự mít tinh do Mặt trận Việt Minh tổ chức.
Ngày 21/8/1945, tại các Đình làng, các thôn ở Hương Nộn đã tổ chức mít tinh công bố xóa bỏ chính quyền bù nhìn, phản động, nộp ấn tín, sổ sách cho nhân dân; công bố tội trạng của bọn Đại Việt tay sai cho Nhật, điển hình là tên Ba Khiêm đã bị tử hình. UBND Cách mạng Lâm thời đã ra mắt gồm 5 người do ông Nguyễn Đình Đông làm Chủ tịch.
Ngày 2/9/1945, tại thủ đô Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Được tin này, ở thôn quê từ cụ già tới em nhỏ ai nấy sung sướng phấn khởi đón chào ngày mới. Các em thiếu nhi mặc quần áo mới, tay cầm cờ đỏ sao vàng ra Đình làng mít tinh hát vang bài “Tiến quân ca”.
Sau khi giành được chính quyền, một mặt phải lo củng cố chính quyền, mặt khác chuẩn bị kháng chiến chống Pháp và giải quyết những vấn đề dân sinh khác ở địa phương. Hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch. Nhiệm vụ lúc này tích cực cứu đói, xóa nạn mù chữ (mở các lớp BDVH), xây dựng lự lượng vũ trang, phát triển dân quân tự vệ bảo vệ cho cuộc bầu cử Quốc Hội và HĐND các cấp. Nhiệm vụ càng nặng nề hơn khi thực dân Pháp gây hấn ở Nam Bộ, 20 vạn quân Tưởng kéo vào Bắc Bộ làm cho cách mạng và chính quyền non trẻ của ta càng khó khăn gấp trăm lần. Mặc dù vậy ở địa phương vẫn tiếp tục củng cố chính quyền và Mặt trận để lãnh đạo nhân dân vượt qua.
Ở xã, thành lập xã Bộ Việt Minh. Các đoàn thể cứu quốc cũng được thành lập như: Nông dân cứu quốc, Ban Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Thanh niên cứu quốc.
Ngày 6/1/1946 toàn dân nô nức đi bầu cử Quốc hội khóa 1 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 21/4/1946, tất cả cử chi đi bầu cử HĐND xã, tỉnh. HĐND xã có 21 Đại biểu được bầu, UBHCKC của xã gồm 7 người. Đến giữa tháng 6 năm 1946 nạn đói cơ bản được giải quyết, với 3000 kg lương thực tiết kiệm để cứu đói, tuy còn khó khăn nhưng nhân dân còn hưởng ứng mua công trái kháng chiến, hưởng ứng tuần lễ vàng. Nhiều phụ nữ tình nguyện lấy hoa tai, mấm, nhẫn vàng ủng hộ kháng chiến. Mở các lớp bồi dưỡng văn hóa với phương châm “người biết chữ dạy người chưa biết chữ”. Năm 1958, xã Hương Nộn được Chính phủ tặng Bằng khen về công tác bình dân học vụ.
Thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa, Hồ Chủ Tịch kêu gọi toàn quốc kháng chiến đêm 19/12/1946 “Thà hy sinh tất cả, chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”. Nhân dân Hương Nộn đã tích cực hưởng ứng, chuẩn bị mọi mặt để kháng chiến lâu dài. Với khẩu hiệu “Tiêu thổ kháng chiến”: đào hào, đắp quỹ trên 1000 m giao thông hào bao bọc xung quanh làng, trên dọc quốc lộ 11A từ Bảo Vệ Hạ đi Hương Nộn đã được thanh niên, tự vệ đào hào xẻ ngang mặt đường, cây cối hai bên đường được chặt đổ chặn ngang; trên 20 ụ chướng ngại, đánh sập cầu sắt qua ngòi Bảo vệ Thượng trên Quốc lộ 11A, phá bỏ một nhà tầng, 3 nhà ngói của ông Dương, ông Dục, phá bỏ chùa Hạ Nậu, huy động 700 cây tre được vót nhọn cắm trên các đồng trống để chống quân nhảy dù.
Tích cực xây dựng lực lượng vũ trang địa phương: 10/9/1946 Đại đội tự vệ của xã được thành lập có 9 tiểu đội do đ/c Triệu Văn Gia chỉ huy. Lực lượng tự vệ đã tự sắm vũ khí: gậy gộc, giáo mác, kiếm, nỏ…ngày đêm luyện tập. Các phương án đánh địch, bảo vệ nhân dân được vạch ra. Có một tiểu đội tự vệ đã tham gia đi phá hoại thành Sơn Tây và thành Hưng Hóa.
Các tổ chức Hội mẹ chiến sỹ, đỡ đầu bộ đội cũng được xây dựng sẵn sàng giúp đỡ bộ đội, du kích. Vận động thanh niên xung phong tham gia đội quân Nam Tiến nhằm chia lửa với đồng bào Nam Bộ đợt đầu có 16 người.
Sáng ngày 15/10/1947 từ căn cứ Trung Hà, Hưng Hóa thực dân pháp tràn vào xã Hương Nộn, cuộc kháng chiến chống pháp của nhân dân và lực lượng vũ trang Hương Nộn bắt đầu. Phần lớn bộ phận nhân dân được sơ tán vào căn cứ rừng Thọ Sơn, một bộ phận sang Lâm Thao, Phú Thọ, Cẩm Khê, căn cứ Thọ Sơn rất hiểm trở, xã Hương Nộn xây dựng nơi đây làm căn cứ đặt cơ quan mặt trận, chi bộ Đảng và làm lều tạm sơ tán của nhân dân.
Quân xâm lược Pháp bắt đầu đặt chân tới đất Hương Nộn là thôn Bảo Vệ Hạ, chúng sả súng bắn chết 19 người, bắt đi 8 người, gia đình ông Nguyễn Văn Sùng bị chết tới 7 người, chúng cướp đi nhiều tài sản như trâu, bò, lợn, gà mang về căn cứ Hưng Hóa.
Sáng 19/10/1947, địch từ Đòn Vàng rút về Hưng Hóa. Trên đường về chúng đã đánh úp vào khu căn cứ kháng chiến của xã ở Thọ Sơn. Tổ du kích xã gồm 3 đ/c: Ba, Nhận, Liên phục kích chặn giặc. Vì lực lượng địch đông, vũ khí mạnh nên cuộc chiến đấu không cân sức, nổ súng ít phút lực lượng ta rút lui.
Đêm 29/10, địch đóng lại tại Đình làng Thọ Sơn. Du kích xã đã bao vây nổ súng làm cho địch rất hoang mang lo sợ, sáng hôm sau 30/10 chúng phải vội vã rút lui khỏi Thọ Sơn. Trên đường rút chạy, chúng đốt phá 32 ngôi nhà của thôn Thọ Sơn, về đến thôn Bảo Vệ Thượng, Hạ Nậu, Hữu Hà chúng tiếp tục đốt phá 75 ngôi nhà, trong đó có 3 ngôi Đình, Đền, Chùa. Trong đợt này, lực lượng vũ trang của ta trưởng thành nhanh chóng, tích lũy được kinh nghiệm, giữ vững được lực lượng của căn cứ kháng chiến, bảo vệ được nhân dân trong khu sơ tán.
Thực hiện khẩu hiệu của Mặt trận Việt Minh “Trường kỳ kháng chiến”, Đại hội tỉnh Đảng bộ Phú Thọ lần 1 ngày 9/1/1947 đã kêu gọi nhân dân tích cực chuẩn bị kháng chiến và xây dựng lực lượng vũ trang tại chỗ. Thực hiện nghị quyết này, Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên được thành lập ở xã. Ngày 17/2/1948, tại thôn Bảo Vệ Thượng, quyết định thành lập Chi bộ Mê Linh (Hương Nộn) đã được công bố gồm 17 Đảng viên (2 đ/c chính thức, 15 đ/c dự bị). Đồng chí Hán Văn Hoán đặc phái viên của Huyện ủy Tam Nông được cử làm bí thư chi bộ. Ngày 17/5/1948, Đại hội chi bộ lần thứ nhất được tổ chức. Trong Đại hội này, chi bộ đã học tập, nghiên cứu tài liệu của Trung ương “Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi”. Từ đây, nhân dân Hương Nộn rất phấn khởi tin tưởng vào cách mạng vì đã có chi bộ Đảng của mình trực tiếp lãnh đạo nhân dân và lực lượng vũ trang của xã đứng vững trên mảnh đất quê hương tiếp tục chống thực dân Pháp.
Đầu năm 1949, chiến trường các huyện phía Nam tỉnh Phú Thọ (Tam Nông, Thanh Thủy) trở lên rất ác liệt. Địch liên tục mở các cuộc hành quân đánh phá nhằm cắt đứt liên lạc giữa khu 10, khu 3, khu 1 – Phú Thọ và Tây Bắc. Hướng Tam Nông, chúng huy động 1000 quân từ Sơn Tây, Trung Hà theo quốc lộ 11A đánh chiếm Hưng Hóa ( phía Nam xã Hương Nộn). Pháo binh địch từ Trung Hà liên tục bắn phá dọc 2 bên đường 11A, đường 15 yểm hộ cho bộ binh tiến quân từ Hưng Hóa chúng tiến vào xã Mê Linh (Hương Nộn) đến ngã ba trước làng Hạ Nậu, chúng bố trí một trung đội đóng đồn trên đỉnh gò Hạ Nậu, còn lại chúng chia theo 2 hướng tiến quân: Hướng 1- Theo đường 15 đi Đồn Vàng (Thanh Sơn); Hướng 2 - Theo đường 11A đi Cổ Tiết (lập đồn Ba Triệu), còn lại chúng tiếp tục tiến quân hợp với cách thứ nhất tại Đồn Vàng (Thanh Sơn). Đến Dộc Vừng, Đèo Khế chúng lại lập thêm đồn nữa. Như vậy xã Hương Nộn bị địch bao vây hoàn toàn, bốt Hạ Nậu địch kiểm soát đường 15, 11A khống chế cắt đứt liên lạc của ta với huyện Lâm Thao (qua sông Hồng).
Hội nghị Chi bộ tại Gò Mít - Thọ Sơn họp bàn các phương án chống giặc. Các đội Du kích vừa bảo vệ dân vừa đánh địch theo các phương án đề ra, lực lượng an ninh phối hợp với Du kích ngày đêm đánh địch, chặn đánh địch khi chúng càn quét, trừ khử những tên việt gian phản động, phá tề lập ấp của chúng. Biên chế lại lực lượng chiến đấu, 1 trung đội Du kích 32 đ/c, có 2 tổ trinh sát do đ/c Nguyễn Như Phi – xã đội trưởng, đ/c Bùi Đình Hương chính trị viên.
Từ 15/2/1949 đến 10/10/1950, gần hai năm giặc Pháp chiếm đóng quê hương, nhân dân và lực lượng vũ trang của xã vừa độc lập tác chiếm, vừa phối hợp lực lượng với bộ đội chủ lực huyện đánh giặc chống càn, phá tề ngụy, tiêu hao sinh lực địch; phối hợp với Du kích và lực lượng an ninh của Hưng Hóa, Cổ Tiết và bộ đội chủ lực huyện, tỉnh đánh địch làm cho địch mất ăn, mất ngủ, bọn tề ngụy nơm nớp lo sợ. Ngoài ra lực lượng vũ trang của xã còn bảo vệ nhân dân từ căn cứ Thọ Sơn, ban đêm trở về đồng thu hoạch 200 mẫu lúa, hoa màu mang về căn cứ để cất giấu vừa để ăn vừa cung cấp cho lực lượng vũ trang của huyện hàng chục tấn lương thực. Mặt khác, du kích xã còn làm nhiệm vụ đưa đón các cán bộ qua sông Hồng liên lạc với vùng tự do (Lâm Thao). Một số đ/c khi gặp địch đã chiến đấu dũng cảm, hy sinh để bảo vệ cán bộ như: Đ/c Đỗ Văn Dự, Đào Văn Phẩm, ông Nguyễn Văn Mai – người lái đò dũng cảm trở nhiều chuyến đò ban đêm cho cán bộ Du kích đi, về làm nhiệm vụ.
Những trận đánh địch của lực lượng vũ trang của xã đánh chú ý:
Đêm 12/3/1949, lực lượng du kích và công an của ta phối hợp với Du kích, Bộ đội chủ lực huyện diệt bọn tề ngụy ác ôn do đ/c Nguyễn Đức Ảnh chỉ huy. Bằng những ngọn giáo vầu, mã tấu, đã tiêu diệt tên Chánh Hưởng, Lý Ất (làng Đức Phong), Lý Cù, Trưởng bạ Tăng, Lý Kính (Hương Nộn). Du kích thôn Thọ Sơn còn bắt, giáo dục 7 đối tượng, phá tan âm mưu lập làng tề ở thôn Thọ Sơn.
Du kích của ta còn tổ chức những trận phục kích trên đường 11A đoạn đường từ Bảo Vệ Hạ đến Bảo Vệ Thượng dài 2 km nhằm bảo vệ tuyến giao thông liên lạc giữa Hương Nộn với huyện Lâm Thao. Ngày 1/5/1949 trận đánh này mục đích để lấy thành tích chào mừng ngày Quốc tế lao động, du kích do đ/c Hán Văn Ba, Đào Thị Chiu chỉ huy phục kích đã đánh bom vào một đại đội địch, tiêu diệt 27 tên Pháp và làm bị thương hàng chục tên khác.
Trận chống càn quét của thực dân Pháp vào làng Thọ Sơn, căn cứ kháng chiến của xã vào ngày 11/9/1949, 1 đại đội địch có 2 tên việt gian dẫn đường. Từ bốt phương giao (Đào Xá) lên chúng đốt phá thôn Thọ Sơn, vơ vét tài sản của nhân dân (trong đó có 300 kg sơn nhựa) mang lên thuyền để trở về bốt Phương giao. Đến gò Liêm Vương bị Du kích chặn đánh bắn đắm thuyền, vừa bị sơn đổ vào người vừa bị đạn của Du kích, 12 tên bị chết, 1 số tên khác bị thương. Sau đó chúng tháo chạy về bốt Hạ Nậu bị đòn đau, chúng đã mở một trận càn với quy mô lớn vào thôn Thọ Sơn, chúng đốt 55 ngôi nhà, giết chết 11 cụ già rất man rợ, hai vợ chồng ông Nghinh bị tra tấn rất dã man, giết chết cả 2 vợ chồng.
Tháng 8/1949, huyện ủy Tam Nông có chủ trương cho nhân dân vùng tạm chiếm về sống hợp pháp trong vùng địch tạm chiếm. Một bộ phận cơ quan xã chuyển sang Lâm Thao, một bộ phận ở lại khu rừng Thọ Sơn lãnh đạo nhân dân tiếp tục kháng chiến. Nhân dân vùng tạm chiếm ban ngày thì làm ngoài đồng, ban đêm tiếp tục che đồn bốt địch, nhân dân đấu tranh hợp pháp, bắt ngụy quân, ngụy quyền phải cung cấp lương thực, cung cấp trâu bò, nông cụ cho nhân dân sản xuất; phát thuốc chữa bệnh cho dân. Sống trong lòng địch nhưng nhân dân vẫn có đảng viên, cán bộ Việt Minh lãnh đạo đã giữ được mối liên lạc giữa vùng tạm chiếm với vùng tự do; nhân dân, du kích của xã tổ chức liên tục các cuộc cắt phá hoại đường dây điện thoại, thu hàng ngàn mét dây, hàng trục cột điện làm gián đoạn việc cắt đứt liên lạc của địch.
Trận tập kích lần thứ 4 vào làng Tề Hương Nộn vào đêm 29/1/1950 gồm 1 trung đội lính Lê Dương và nhiều tên Hương Dũng đóng ở Đình Hương Nộn, với 40 hộ dân công giáo, chúng lập các ụ gác và rào tre để kìm kẹp nhân dân. Lực lượng du kích của ta cùng bộ đội địa phương của huyện dùng thuyền vượt sông Hồng bao vây đánh địch. Trận chiến đấu diễn ra ác liệt, làm cho địch lúng túng hoang mang, bắn trả loạn xạ. Chúng đưa nhân dân (chủ yếu là phụ nữ, trẻ em) ra nhằm làm bia đỡ đạn cho chúng. Vì vậy lực lượng ta phải rút lui. Đ/c Bùi Đình Hương chính trị viên là xã đội anh dũng hy sinh trong trận này. Kết quả trận này ta tiêu diệt 3 tên lính Lê Dương. Hoảng sợ trước họat động mạnh của lực lượng du kích xã, chúng trả thù để chấn áp nhân dân. Chúng bắt 19 người trong đó có 14 đảng viên tra tấn rất dã man nhưng chúng không khai thác được gì, cuối cùng phải thả cho về.
Chiến dịch biên giới hoàn toàn thắng lợi. Ngày 7/10/1950, tuyến phòng thủ Tây Nam Phú Thọ của địch lần lượt rút chạy. Ngày 10/10/1950, địch rút khỏi Bà Triệu, Dộc Vừng, Hương Lộn, Hưng Hóa và Trung Hà. Hương Nộn được hoàn toàn giải phóng. Nhân dân vui mừng khôn xiết cùng nhau xây dựng lại cuộc sống của mình.
Sau khi được hoàn toàn giải phóng, nhân dân Hương Nộn bắt tay ngay vào việc xây dựng hậu phương, phục vụ tiền tuyến (1951-1954).
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II từ ngày 11 đến 19/2/1951. Đại hội Đảng tỉnh bộ Phú Thọ lần IV (30/3/1951). Đảng ra công khai, lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam. Đại hội đảng đã kêu gọi “Toàn Đảng, toàn dân quyết tâm đánh thắng hoàn toàn thực dân Pháp xâm lược”. Để xây dựng, củng cố hậu phương sẵn sàng chiến đấu chống địch lấn chiếm, tái chiếm về quân sự đã kiện toàn lại, Ban Chỉ huy xã đội các đơn vị dân quân được biên chế theo thôn. Toàn xã có 1 trung đội du kích, được trang bị một số vũ khí: súng trường, lựu đạn, ngày đêm luyện tập.
Tháng 3/1951, xã cử 100 dân công phục vụ chiến dịch Hà Nam Ninh. Tháng 6/1951, cử 25 thanh niên đi bộ đội, 15 thanh niên xung phong. Tháng 10/1951, cử 70 người đi dân công phục vụ chiến dịch Lý Thường Kiệt. Về văn hóa, giáo dục, y tế được chú ý: Nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân mở lại các lớp Bình dân học vụ và xây dựng lớp học phổ thông đầu tiên để con em nhân dân đi học.
Trên chiến trường Miền Bắc, ta liên tiếp mở chiến dịch Hòa Bình (1951), Tây Bắc (1952). Bọn địch bị thất bại nặng nề trên khắp các chiến trường, đặc biệt là Tây Bắc. Vì vậy, thực dân Pháp mở cuộc hành quân PôMôn Thu đông 1952 tiến lên Phú Thọ để nhằm thu hút lực lượng của ta giải nguy cho đồng bọn ở Tây Bắc. Ngày 29/10/1952, chúng hành quân qua xã Hương Nộn theo đường 11A. 1 cánh có xe cơ giới chở quân cơ giới đi theo đường 15 đi Đồn Vang lên Thu Cúc (Thanh sơn), còn một cánh đường 11A tiến lên Phú Thọ chúng đi đến đâu là đốt phá, cướp của giết người tới đó gây lên vô vàn tội ác. Du kích Hương Nộn cũng tham gia chặn đánh địch tại Cầu Bạch chân dốc Hương Nộn trên quốc lộ 11A, tiêu diệt 2 tên, phá hỏng một xe Gíp, thu một súng ngắn và một số quân trang quân dụng khác, góp sức cùng dân quân tỉnh nhà làm thất bại cuộc hành quân LORen của địch. Ngày 25/11/1952, địch phải rút khỏi Phú Thọ, thất bại ở Tây Bắc.Nhân dân, lực lượng vũ trang của xã phối hợp góp công, góp của cùng dân quân cả nước mở chiến dịch đánh vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Với khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng”, 147 chiến sỹ dân công tham gia phục vụ chiến dịch, vận chuyển hàng trăm tấn lương thực, đạn dược; hàng chục nữ thanh niên đi nuôi thương binh, cứu tải thương. Nhân dân đóng góp hàng chục tấn lương thực, hàng chục con trâu, bò, lợn phục vụ các chiến sỹ ngoài mặt trận.
Ở hậu phương, nhân dân hăng hái tham gia phong trào giảm tô, rồi cải cách ruộng đất, xây dựng Hội mẹ chiến sỹ đỡ đầu thương binh, bệnh binh. Sản xuất nông nghiệp được đẩy mạnh, phong trào xây dựng tổ đổi công được tổ chức ở khắp thôn, làng.
Sau gần 3 tháng chiến dịch Điện Biên Phủ hoàn toàn thắng lợi - ngày 7/5/1954. Chiến thắng Điện Biên phủ kết thúc 9 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, hòa bình được lập lại trên miền Bắc thân yêu. Ngoài việc đánh giặc giữ làng - giữ đất, nhân dân Hương Nộn còn làm tốt các nhiệm vụ khác, đó là những ngày đầu kháng chiến: Lực lượng tự vệ, nhân dân trong xã đã giúp đỡ, bảo vệ đoàn cán bộ, bộ tài chính của Chính phủ chuyển lên chiến khu Việt Bắc (lưu lại ở xã ít ngày); giúp đỡ cưu mang 60 gia đình từ thủ đô Hà Nội lên sơ tán tại xã.
Tổng kết 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Hương Nộn, thực hiện lời kêu gọi kháng chiến của Hồ Chủ Tịch: Nhân dân và tự vệ đã đào 1000 m giao thông hào, đắp 20 ụ chiến đấu; Đào 500 hầm trú ẩn, 100 lán trại, 50 hàm chông, hố mìn, chặt cây, phá cầu trên suốt 2 km Quốc lộ 11A để ngăn chặn bước tiến của quân giặc và 700 cây tre làm chông, chống giặc nhảy dù. Lực lượng vũ trang của xã đánh 27 trận diệt 51 tên địch; phối hợp với chủ lực huyện đánh bốt Bà Triệu, Dộc Vừng diệt 39 tên, bị thương 44 tên, tiêu diệt 5 tên tề ngụy phẩn động, giáo dục và cải tạo 7 đối tượng khác phá tan âm mưu lập làng tề của giặc, phá hủy 1 xe ôtô, thu nhiều súng đạn, quân trang, quân dụng của Pháp. Nhân dân đã đưa đón hàng chục lần cán bộ, du kích, bộ đội qua sông, giữ vững được liên lạc giữa vùng tạm chiếm và vùng tự do, góp phần truyền đạt mọi Chủ trương, Chỉ thị, Nghị quyết của tỉnh, huyện kịp thời tới lực lượng vũ trang và nhân dân trong xã. Lực lượng vũ trang đã bảo vệ được nhân dân, giữ vững được cơ sở, Nhân dân Hương Nộn trong 9 năm đóng góp sức người, sức của cho kháng chiến: 212 thanh niên đi bộ đội, 15 thanh niên xung phong, 407 chiến sỹ dân công phục vụ hỏa tuyến, đóng góp trên 1000 tấn lương thực, hàng chục trâu,bò, lợn, hàng trăm bệnh binh. Toàn xã có 24 đ/c Liệt sỹ đã anh dũng hy sinh (trong đó có 4 đ/c là duy kích) 15 đ/c là thương binh.
Nhân dân Hương Nộn được Chính Phủ tặng thưởng: 212 bảng gia đình vẻ vang, 24 bằng Tổ quốc ghi công, 542 huân, huy chương kháng chiến và nhiều bằng khen, giấy khen.
II. Thành tích trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước giai đoạn (1955-1975)
Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, lực lượng vũ trang và nhân dân Hương Nộn bắt tay vào việc khôi phục, cải tạo kinh tế, văn hóa – xã hội. Bước đầu xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH. Dưới ánh sáng của Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ III (1960), nhân dân Hương Nộn cùng cả nước thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất nước nhà.
Nhân dân Hương Nộn bắt tay vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh, tiến hành cải cách ruộng đất, lực lượng vũ trang lúc này làm nhiệm vụ hậu thuẫn, bảo vệ cho nông dân đấu tranh với giai cấp địa chủ, thu 340 mẫu ruộng, 22 con trâu, bò, 4000 kg thóc, hàng trăm công cụ của 15 địa chủ chia cho nông dân, khai hoang phục hóa trên 400 mẫu ruộng, đào đất 6000 m3 đất giao thông thủy lợi, đưa nước vào đồng cấy lúa và sản xuất.
Xây dựng 38 tổ đổi công (1956) đến 1959 xây dựng HTX nông nghiệp, nông dân phấn khởi vào HTX, đóng góp 352 con trâu, bò, 767 mẫu ruộng, 617 mẫu đồi, bãi vào làm an tập thể: Các HTX Nông nghiệp, HTX tín dụng, HTX mua bán được phát triển, 3 ngọn cờ hồng ở nông thôn được hình thành và phát triển. Toàn xã đã đóng góp cho Nhà nước 114 tấn lương thực, 11 tấn lợn hơi, củ; 1 đoàn dân công gần 100 nguời đi khôi phục tuyến đường sắt Hà Nội – Mục nam quan.
Công tác cải tiến quản lý HTX Nông nghiệp được tiến hành từ 8 HTX nhỏ nay tổ chức sắp xếp lại thành 3 HTX (Đại Thắng, Hồng Thao, Thọ Sơn).
Phong trào: gió Đại phong, sóng Duyên hải, trống Bãi lý, cờ Ba nhất được phát động, thực hiện rầm rộ.
Sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hóa văn nghệ, TDTT được phát triển mạnh (trường cấp 2 được mở tại xã, trạm y tế được xây dựng). Năm 1959 chế độ nghĩa vụ quân sự được thi hành, đợt đầu tiên có 21 thanh niên lên đường làm nghĩa vụ. Một sự kiện có ý nghĩa rất quan trọng đối với nhân dân xã Hương Nộn là ngày 2/3/1961 chi bộ Hương Nộn được chuyển thành Đảng bộ với tổng số 129 đ/c Đảng viên.
Sản xuất nông nghiệp được quan tâm: Vụ mùa 1963 đã cấy được 450 mẫu, năng suất bình quân 75 kg/sào, làm nghĩa vụ cho Nà nước 120 tấn lương thực, 4 tấn lợn hơi, 1700 kg gia cầm, 2,5 tấn sơn nhựa, 70 vạn viên gạch/năm; trồng 175 mẫu đồi cây bạch đàn, phi lao, sà cừ với trên 10.000 cây, trại chăn nuôi trâu bò, lợn trên 150 con. Trên 10.000 con gia cầm (gà, vịt), trên 4000 kg cá/năm. Mặt trận Việt Minh nay được đổi tên thành Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể được củng cố, phát triển. Đảng bộ Hương Nộn được công nhận là Đảng bộ phấn đấu tốt, trong 5 năm kết nạp được 64 Đảng viên mới.
Trong lúc nhân dân Miền Bắc đang phấn đấu hoàn thành kế hoạch 5 năm lần thứ nhất thì cách mạng Miền Nam đạt được nhiều thắng lợi to lớn, đã làm phá sản chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ. Để cứu vãn tình thế, Mỹ đã tăng quân ồ ạt vào Miền Nam Việt Nam, thực hiện chiến tranh cục bộ, đồng thời leo thang đánh phá miền Bắc. Ngày 5/8/1964, giặc Mỹ điên cuồng ném bom, bắn phá ác liệt thành phố Hải Phòng. Hưởng ứng lời kêu gọi đồng bào và chiến sỹ cả nước “quyết tâm đánh bại giặc Mỹ xâm lược trong mọi tình huống” của Đảng và Bác, cuối năm 1965 - đầu năm 1966, Đảng bộ Hương Nộn đã giáo dục cho Đảng viên và nhân dân thấy rõ tình hình và nhiệm vụ, chuyển hướng mọi họat động cho phù hợp với tình hình mới, vừa xây dựng kinh tế vừa sẵn sàng chiến đấu đánh trả máy bay địch, vừa chi viện sức người, sức của cho cách mạng Miền Nam. Chỉ trong vài ngày, Ban chỉ huy Phòng Không của xã đã thành lập các đội bắn máy bay, đã phối hợp với lực lượng quân sự của huyện, tổ chức 3 điểm chiến đấu trên địa bàn xã Hương Nộn. Đồng thời tổ chức các tròi, trạm quan sát báo động. Lúc này theo chỉ đạo của huyện, lực lượng chiến đấu xã Hương Nộn đã cử nhiều đơn vị dân quân du kích trong xã, thay nhau đi trực chiến ở các xã Hồng Đà, Tề Lễ. Lực lượng dân quân du kích trong xã được thay phiên nhau đi trực chiến và tất cả đều được tập huấn kỹ thuật về tháo gỡ bom mìn, bom bi, bom từ trường. Không khí trong làng từ cụ già đến trẻ thơ ai nấy khẩn trương và đã sẵn sàng. Các đội cứu thương, cứu hỏa, đào bới sập hầm, cấp cứu người gặp nạn, đào ắp ụ pháo, đào công sự. Thời gian này Ban chỉ huy quân sự xã đã cử 12 chiến sỹ lên Đức Phong làm nhiệm vụ gỡ bom từ trường. Đêm 26/10/1966 giặc Mỹ nứm 6 quả bom xuống địa bàn xã. Nhờ có tinh thần cảnh giác và tư thế sẵn sàng chiến đấu của toàn Đảng toàn dân trong xã, bom giặc không gây ra thiệt hại gì. Với tinh thần quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ, ở các nhà trường, tạm xá, trụ sở, cửa hàng và mỗi gia đình đã được toàn dân đào đắp hàng ngàn mét giao thông hào, hầm trú ẩn, các cháu học sinh đi học đều có mũ rơm, túi thuốc, băng cá nhân. Mặc dù trong hoàn cảnh ngày đêm giặc Mỹ điên cuồng đánh phá nhưng phong trào dạy và học ở các trường trong xã vẫn phát triển bình thường, phong trào học tập, văn nghệ tiếng hát át tiếng bom ở các thôn, làng phát triển hơn lúc nào hết. Các cơ sở kinh tế, những nơi tập chung đông người như trường học, trạm xá, cửa hàng, trụ sở làm việc đều được sơ tán chuyển địa điểm vào nơi hẻo lánh. Trên đồng ruộng khí thế lao động càng hăng say, chị em phụ nữ tay cày, tay cấy, vai đeo súng sẵn sàng đánh giặc bất cứ lúc nào chúng gây tội ác, tinh thần lao động của nhân dân trong xã xuất phát từ lòng yêu nước, yêu quê hương, ai nấy đều lao động hết mình với tinh thần: một người làm việc bằng hai, tất cả vì Miền Nam ruột thịt. Khí thế cách mạng trong lao động được khơi dậy do đó năng xuất lúa của các HTX đều tăng, từ chỗ năng suất chỉ đạt 70 kg nay đã tăng lên 100 kg, có HTX đã dật tới 140 kg/sào Bắc Bộ. Mặc dù trong hoàn cảnh ác liệt của chiến tranh phá hoại nhưng công tác văn hóa – xã hội, y tế vẫn được duy trì đều đặn. Cán Bộ y tế ở trạm và các khu dân cư hoạt động đạt nhiều hiệu quả. Ngoài việc khám, chữa bệnh ở trạm, các y sỹ, y tá còn thường xuyên xuống các trận địa chăm sóc sức khỏe cho chiến sỹ, dân quân, các chị em cán bộ vệ sinh viên ở các thôn xóm, vẫn kiên trì vận động nhân dân củng cố và phát triển các công trình vệ sinh ở các gia đình như giếng nước, chuồng tiêu, buồng tắm. Các tổ Bạc đầu quân của các chi hội phụ lão ngày đêm phân công nhau giúp đỡ và động viên anh chị em trực chiến, tại các khu trung tâm, trong các ngõ xóm, nhiều panô áp phích, khẩu hiệu tuyên truyền sản xuất, chiến đấu được mọc lên cùng với các tổ văn nghệ không chuyên hoạt động đều đặn, khơi dậy ý trí quyết tâm và truyền thống anh hùng bất khuất của bà con trong xã, lúc này anh chị em đã xuống tận nơi các trận địa để phục vụ. Cùng với các đoàn thể nhân dân trong xã, hoạt động của Đoàn thanh niên thật sự sôi nổi, mạnh mẽ, các anh chị đã xứng đáng với khẩu hiệu: “Đâu cần thanh niên có – việc gì khó có thanh niên”. Phong trào 3 sẵn sàng được triển khai sâu rộng đã thấm sâu vào máu thịt của thanh niên Hương Nộn. Thời điểm này đã có 320 thanh niên viết đơn tình nguyện sẵn sàng nhập ngũ, trong đó có 11 lá đơn viết bằng máu, khí thế đánh Mỹ sôi sục vì vậy nhân dân Hương Nộn lại cùng nhau no nức thi đua lao động sản xuất, xây dựng quê hương và tiếp tục tăng cường sức người, sức của chi viện cho Miền Nam để đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược.
Đảng bộ Hương Nộn bắt tay vào việc học tập Nghị quyết 195, Chi bộ 192 của Bộ chính trị. Sau đợt hoạt động chính trị này, đội ngũ đảng viên thêm trong sạch, nội bộ Đảng càng đoàn kết, thống nhất ý chí, sức chiến đấu của Đảng bộ được nâng lên.
Đầu năm 1975 cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Miền Nam dồn dập thu được những thắng lợi quan trọng. Ngày 30/4/1975 Chiến dịch Hồ Chí Minh đại thắng, đất nước ta hoàn toàn được giải phóng, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ vĩ đại của dân tộc, Bắc – Nam xum họp một nhà.
Trải qua 10 năm xây dựng CNXH và tham gia chống Mỹ cứu nước, Đảng bộ và nhân dân Hương Nộn đã vượt lên biết bao khó khăn gian khổ và quyết liệt do chiến tranh, do tiên tai lũ lụt và đã đạt được nhiều thành tích to lớn trên các mặt. Quan hệ sản xuất XHCN được hoàn thiện và củng cố một bước. Trong hoàn cảnh khó khăn nhất kinh tế vẫn phát triển, sản phẩm mỗi năm một tăng, đời sống văn hóa, tinh thần, vật chất trong nhân dân luôn được cải thiện. Trong mười năm, nhân dân Hương Nộn đã đóng góp cho Nhà nước trên một ngàn tấn lương thực, trên 50 tấn thịt lợn, trên 10 tấn gia cầm, 30 tấn sơn nhựa, 4000 tấn chuối, làm tròn nghĩa vụ với tiền tuyến, 1297 thanh niên Hương Nộn đã ngã xuống trên các chiến trường 2 thương bệnh binh, trên 70 Bà mẹ, bà vợ đã phải hy sinh chồng con cho thắng lợi của đất nước.
Tổng kết thành tích của cuộc kháng chiến chống Mỹ, nhân dân Hương Nộn đã được Chính phủ tặng Huân chương kháng chiến hạng Hai và các cá nhân được: 03 Huân chương Độc lập hạng Ba, 375 Huân chương các loại, 36 Bảng vàng danh dự, 400 Bảng gia đình vẻ vang. Cán bộ và nhân dân xã Hương Nộn được tặng thưởng 01 Huân chương kháng chiến hạng Ba.
Những phần thưởng cao quý trên đây là niềm vinh dự của Đảng bộ và nhân dân xã Hương Nộn, góp phần tô đậm truyền thống anh hùng của quê hương, là nguồn cổ vũ động viên nhân dân Hương Nộn tiếp tục phấn đấu vươn lên trong giai đoạn mới.
III. Những thành tích đạt được trong công cuộc xây dựng XHCN - đổi mới đất nước (1976-2008)
Thắng lợi của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cả nước thống nhất đi lên xây dựng CNXH. Với truyền thống yêu nước, tính cần cù sáng tạo của mình, nhân dân Hương Nộn dưới sự lãnh đạo của Đảng lại bắt tay vào hàn gắn vết thương sau chiến tranh, xây dựng quê hương mới. Mục tiêu chiến lược mà Đảng bộ và nhân dân trong xã đặt ra là: Tập chung phát triển kinh tế một cách toàn diện; từng bước xóa đói giảm nghèo, củng cố quốc phòng và anh ninh giữ vững ổn định chính trị để phát triển.
Về phát triển kinh tế: Giai đoạn đầu những năm 1976 – 1990 hoàn thiện cơ chế, củng cố kinh tế tập thể, phát huy vai trò của HTX Nông nghiệp, tiếp sau đó chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế theo các Nghị quyết 100 thực hiện chủ chương khoán 10…đã tạo ra động lực mới trong việc nâng cao đời sống nhân dân. Từ năm 1986 đến nay, hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng ta phát động Hương Nộn tiếp tục tạo ra nhiều sự đổi thay mới và phát triển không ngừng. Từ chỗ là một địa phương nền kinh tế nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu, cơ sở vật chất hạ tầng không có gì đã từng bước vươn lên trở thành địa phương liên tục đứng đầu của huyện Tam Nông. Đó là nền sản xuất đã được thay đổi căn bản, người dân thực sự được làm chủ mảnh đất và cơ sở sản xuất của mình, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm sau, giai đoạn sau cao hơn năm trước. Tổng thu nhập kinh tế quốc dân của xã đến 2008 đã tăng lên nhiều. Tổng giá trị sản xuất trên địa bàn xã những năm 2000 – 2001 đã đạt từ 23 đến 24 tỷ đồng. Tổng sản lượng lượng đến năm 2001 đã đạt mức 3.300 tấn/năm. Cơ cấu kinh tế của xã chuyển dịch đáng kể. Đầu năm 2001 đã có hơn 30% tỷ trọng cơ cấu kinh tế được thu nhập từ dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp, hạ tầng cơ sở được đầu tư đạt ở mức hàng trăm tỷ đồng. Thành tựu nổi bật là đưa điện lưới Quốc gia về xã từ năm 1989. Đến nay tổng dung lượng điện đã đạt > 40 kw/h, đào đắp hơn 20 km bờ vùng bờ đập, hàng vạn mét kênh muong trong đó có hơn 10 km kênh xây dựng kiên cố. Đường giao thông đã có hơn 40 km trong đó có 15 km đường giao thông nông thôn được bê tông. Sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ đã đi vào sản xuất theo đúng hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Là địa phương có bình quân thu nhập kinh tế, bình quân đầu người đạt cao nhất huyện Tam Nông.
Tiếp đến những năm gần đây, Hương Nộn đã thực hiện công tác chỉ đạo thực hiện dồn đổi ruộng đất nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế cây trồng vật nuôi, mở rộng sản xuất tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, vận động nhân dân tích cực ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất… Có thể nói Hương Nộn là một trong những địa phương đi đầu của huyện trong những phong trào đó nên năng xuất và hiệu quả lao động được nâng lên rõ rệt. Tốc độ tăng trưởng kinh tế nhiều năm trở lại đây đạt 10% năm, đến năm 2007 giá trị sản xuất trên địa bàn xã đã đạt mức 48,9 tỷ đồng, bình quân thu nhập trị giá 7.100.00đ/người, lương thực đạt 530kg/người/năm. Để tạo ra năng lực sản xuất mới trong những năm qua Đảng bộ đã lãnh đạo nhân dân trong xã đã tích cực tham gia khai thác các nguồn lực tại chỗ kết hợp với tranh thủ sự hỗ trợ của nhà nước và các tổ chức cá nhân để đầu tư kết cấu hạ tầng, nhiều công trình phục vụ phát triển kinh tế và phúc lợi xã hội được chỉ đạo đầu tư trong giai đoạn như: Công trình điện, nước sinh hoạt, hệ thống trạm bơm tưới tiêu và bờ bao ngăn lũ, đường giao thông nông thôn, trường học, trạm y tế, khu di tích, nhà văn hóa đã và đang từng bước làm thay đổi căn bản diện mạo nông thôn.
Về phát triển xã hội: Sau chiến tranh đời sống tinh thần của nhân dân rất thiếu thốn và lạc hậu, thực hiện chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước, Đảng bộ xã đã lãnh đạo nhân dân tập trung khắc phục khó khăn từng bước đầu tư để phát triển cả quy mô và chất lượng toàn diện các phong trào, trước hết là công tác đầu tư cơ sở vật chất cho các trường học, trạm y tế, đài truyền thanh, khu di tích và nhà văn hóa khu dân cư. Đồng thời đã quan tâm chỉ đạo thực hiện chủ trương xã hội hóa các phong trào họat động, do vậy đến nay về giáo dục xã đã có đủ các cấp học bậc học với cơ sở vật chất cơ bản đáp ứng yêu cầu giảng dạy và học tập. Các nhà trường trong xã đã thường xuyên quan tâm đổi mới nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập nên nhiều năm liên tục là đơn vị lá cờ đầu của ngành giáo dục huyện và tỉnh, trường tiểu học và THCS đạt các tiêu chí công nhận trường chuẩn quốc gia. Sự nghiệp y tế được quan tâm chỉ đạo đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Năm 2006, Hương Nộn được UBND tỉnh công nhận là xã đạt chuẩn quốc gia. Các phong trào văn hóa, văn hóa, thể dục thể thao phát triển rộng khắp ở tất cả các lứa tuổi, công tác thông tin tuyên truyền được duy trì thường xuyên đảm bảo truyền tải kịp thời những chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước đến đông đảo các tầng lớp nhân dân.
Hưởng ứng cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, Đảng bộ xã đã thường xuyên quan tâm chỉ đạo củng cố ban vận động, bổ sung hoàn chỉnh và ban hành thực hiện bản hương ước nếp sống văn minh, từng bước đầu tư các thiết chế văn hóa cơ sở, đến nay toàn bộ các khu dân cư trong toàn xã đã có nhà văn hóa và các khu vui chơi tập chung, các thiết chế văn hóa như sân bóng đá, bóng chuyền được quy hoạch trên địa bàn đảm bảo cơ bản đủ cho nhu cầu sử dụng. Phong trào xây dựng gia đình – khu dân cư – làng xã văn hóa được nhân dân trong xã nhiệt tình hưởng ứng và hăng hái tham gia, hàng năm đã có từ 80% số hộ gia đình đạt tiêu chuẩn văn hóa, đến 2006 xã và 4 khu dân cư – 1 làng và 2 cơ quan đơn vị được công nhận đạt tiêu chuẩn văn hóa cấp tỉnh. Đời sống vật chất tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện, hiện nay toàn xã có 99,5% số hộ có nhà mái ngói, gần 30% số hộ khá và giàu, tỷ lệ hộ nghèo chỉ còn lại 4%.
Về củng cố quốc phòng và an ninh: Đi đôi với nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, những năm qua, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân trong xã luôn coi trọng việc củng cố công tác quốc phòng giữ vững an ninh chính trị, trật tự xã hội là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu. Ngay sau khi đất nước hòan toàn thống nhất thì chẳng bao lâu các thế lực thù địch lại gây ra phức tạp ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc của Tổ quốc. Vì sự vẹn toàn lãnh thổ của đất nước, nghe theo tiếng gọi của Đảng, nhân dân Hương Nộn lại tiếp tục tham gia đóng góp sức người, sức của cho sự nghiệp bảo vệ tổ quốc. Hàng trăm cán bộ, Đảng viên hăng hái tham gia xây dựng tuyến phòng thủ biên giới, hàng trăm thanh niên lại hăng hái lên đường nhập ngũ và tham gia chiến đấu bảo vệ biên cương của tổ quốc. Trong cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc lại có thêm 6 người con của Hương Nộn hy sinh, 3 người đã để lại một phần xương máu của mình tại chiến trường và hàng chục người khác tình nguyện ở lại lao động công tác lâu dài xây dựng vùng biên cương xa xôi. Chiến tranh bảo vệ chấm dứt, nhưng không vì thế mà lơ là thực hiện các chủ trương của Đảng, xã Hương Nộn đã tập trung đầu tư xây dựng lực lượng vũ trang trong địa phương vững mạnh. Đã duy trì đảm bảo từ 1,5 đến 2% theo tỷ lệ dân số tham gia vào lực lượng dân quân, xây dựng một số đơn vị cơ động của tỉnh, của huyện. Đối với lượng lượng dự bị động viên được chú trọng đăng ký quản lý chặt chẽ, đã biên chế hơn 80% số quân nhân phục viên xuất ngũ vào các đơn vị dự bị động viên của Bộ, Quân khu, của tỉnh, tiêu biểu nhất là Đại đội I thuộc tiểu đoàn Bộ binh huyện đã tham gia nhiều cuộc diễn tập khu vực phòng thủ của tỉnh và huyện được cấp trên đánh giá cao. Công tác tuyển quân sự địa phương nhiều năm liền đạt đơn vị quyết thắng.
Công tác giữ gìn an ninh chính trị ở địa phương luôn được làm tốt, mọi người dân có ý thức chấp hành sống và làm việc theo Hiến pháp và Pháp luật, an ninh chính trị luôn được giữ vững, trật tự xã hội luôn được đảm bảo, tiêu cực xảy ra ít và nhiều năm liền không có vụ việc phức tạp và trọng án xẩy ra. Với những thành tích đạt được trên công tác quân sự địa phương liên tục nhiều năm trở lại đây được công nhận là đơn vị quyết thắng. Phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc từ 1991 - 1995 là đơn vị lá cờ đầu và được Bộ Công an tặng cờ thi đua xuất sắc, lực lượng công an đã được Chính phủ tặng cờ thi đua xuất sắc năm 1997. Cho đến nay, công an – Quân sự hàng năm đều được công nhận là đơn vị quyết thắng.
Về xây dựng Đảng chính quyền và củng cố hệ thống chính trị của địa phương: Đảng bộ xã Hương Nộn có hàng trăm đảng viên, có nhiều đồng chí được rèn luyện và trưởng thành trong các cuộc kháng chiến và có thêm nhiều đảng viên trưởng thành trong thời kỳ đổi mới, sự đa dạng đó đã tạo ra cho Đảng bộ một sức mạnh tổng hợp để lãnh đạo địa phương. Việc xây dựng hệ thống chính trị luôn được Đảng bộ xã xác định là nhiệm vụ then chốt, do vậy đã thường xuyên quan tâm thực hiện công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ đảng viên và quần chúng nhân dân, chú trọng công tác quy hoạch và đào tạo cán bộ, công tác kiểm tra, công tác vận động quần chúng nhân dân. Chỉ đạo từng bước củng cố, đổi mới nâng cao hiệu quả - hiệu lực quản lý của chính quyền, đổi mới họat động của MTTQ và các đoàn thể nhân dân – các tổ chức xã hội, nhất là chỉ đạo thực hiện quy chế dân chủ cơ sở phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị trong phát triển kinh tế - xã hội. Do vậy nhiều năm liên tục đảng bộ - Chính quyền xã đạt danh hiệu “Trong sạch vững mạnh”, là đơn vị tiên tiến xuất sắc của huyện và tỉnh, MTTQ và các đoàn thể nhân dân – các tổ chức xã hội đều được đánh giá xếp loại hoạt động tốt của huyện Tam Nông.
Tựu chung: từ sau năm 1975 đến nay, nhân dân Hương Nộn tập trung vào dựng địa phương trên toàn diện các lĩnh vực và đã thu được nhiều thành tựu quan trọng. Đó là đã cải tạo lại nền kinh tế từ bao cấp tự cung tự cấp sang sản xuất lớn, có quy hoạch, có kế hoạch và bắt đầu sản xuất theo hướng hàng hóa. Với hơn ¼ thế kỷ, nền kinh tế của xã đã góp phần quan trọng tạo ra sự thay đổi mọi mặt ở địa phương. Sự nghiệp văn hóa xã hội được chú trọng toàn diện, đã góp phần làm cho Hương Nộn có nhiều thay đổi về cách nghĩ, cách làm, nông thôn mới đã hình thành và có chiều sâu vững chắc. Công tác quốc phòng và an ninh được tăng cường cả về lượng và chất, đã tạo cho mỗi người dân luôn đề cao cảnh giác cách mạng, không lơ là chủ quan, xác định đúng tình hình xây dựng lực lượng vũ trang địa phương vững mạnh đảm bảo sẵn sàng chiến đấu cao và đã góp nhiều sức người, sức của cho xây dựng quân đội trong thời kỳ hòa bình, bảo vệ và xây dựng vững trắc Nhà nước Xã hội chủ nghĩa, từng bước tiến nhanh - mạnh trên con đường hội nhập Quốc tế.

Biên tập từ nguồn dữ liệu do cán bộ lãnh đạo xã Hương Nộn cung cấp.