Title_left HỒ SƠ THÀNH TÍCH Title_right
 
Zoom
 
No-person-img
Nhà báo Châu Giang, Phú Sơn, Hồng Đại
No-person-img
Nhà báo Chí Dũng
No-person-img
Nhà báo Dương Thuấn
No-person-img
Nhà báo Dương Trung Quốc
No-person-img
Nhà báo H'Linh Nie
No-person-img
Nhà báo Hải Yến
No-person-img
Nhà báo Hồng Hải
No-person-img
Nhà báo Hà An
No-person-img NHÀ BÁO VIỆT YÊN

NGƯỜI GIEO CHỮ GIỮA ĐẠI NGÀN

 

Cách đây gần ba mươi năm, thầy giáo Hà Công Văn mới tốt nghiệp ra trường đã tình nguyện lên dạy chữ Bác Hồ cho người Vân Kiều, Pa Cô ở Quảng Trị sống giữa mây ngàn xa tít tắp. Với công cho người Vân Kiều, Pa Cô ở Quảng Trị sống giữa mây ngàn xa tít tắp. Với công lao đó, thầy Hà Công Văn đã được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động vào cuối năm 2002. Ngôi nhà sàn lợp bằng lá rừng của vợ chồng Anh hùng Lao động Hà Công Văn bây giờ nằm ở xã Húc Nghì, ngay giữa đường Hồ Chí Minh, theo hướng Nam - Bắc, đoạn từ Tà Rụt ra cầu treo Đakrông. Ngày đi làm rẫy, đêm đi dạy: Ngồi kể chuyện cũ, người dân sống giữa đại ngàn Trường Sơn vẫn còn nhớ hình ảnh ngày đầu tiên anh Hà Công Văn mới ra trường. Năm ấy, anh Văn tròn hai mươi tuổi, nước da trắng ngần như con gái. Sau khi tốt nghiệp trường Trung học sư phạm Quảng Bình, anh tình nguyện đến dạy học ở xã Tà Long, rẻo cao của tỉnh Quảng Trị. Ngày đó, Tà Long đang là một nơi hết sức lạc hậu, chưa có người Kinh sinh sống, chỉ có người Vân Kiều, Pa Cô, bà con hầu hết đều mù chữ. Cầm quyết định trên tay, sau hơn ba ngày đi bộ, anh Hà Công Văn mới đến được xã Tà Long. Dân bản rất đỗi ngạc nhiên trước vị khách này. Anh Văn giải thích mãi, cuối cùng bà con mới hiểu, đó là người của Bác Hồ, có nhiệm vụ mang cái chữ của Bác lên dạy cho dân làng biết đọc, biết viết để mau thoát đói nghèo. Khi mới đặt chân đến Tà Long, anh gặp rất nhiều khó khăn. Anh Văn kể : "Muỗi rừng, sốt rét, đói nghèo đã đẩy lùi hai đồng nghiệp của mình về đồng bằng". Lúc đó, thầy Văn là người Kinh duy nhất ở xứ sở này. Muốn hoà nhập được với bà con, anh đã hoá thân trở thành người miền núi, cùng ăn, cùng ở với dân bản, phải học tiếng Vân Kiều, Pa Cô để thuyết phục bà con nghe theo mình. Anh quyết định bắt tay ngay vào công việc. Ban ngày bày họ cách trồng lúa nước, trồng rau, thâm canh hoa màu...Đêm về, thắp đuốc lội suối đến từng nhà vận động bà con cho con em mình đi học, nhưng may mắn lắm cũng chỉ có được một vài em đi học. Không có nơi học hành, anh cùng bà con chặt tre nứa làm trường. Giữa đại ngàn Trường Sơn sau bao nhiêu năm chiến tranh, lần ấy có được một lớp học 42 học sinh ca hát rộn vang cả núi rừng. Mười lăm năm sau, anh lại được điều vào công tác ở một nơi xa hơn, đó là xã Húc Nghì. Đường vào xã Húc Nghì có nhiều đèo dốc hiểm trở. Quanh năm mây ngàn che kín các đỉnh núi với một màu lam trắng. Nhiều học sinh của thầy Văn phải đi bộ qua những ngọn núi cao mới đến được lớp học. Thương các em nhỏ, anh đã sáng tạo ra mô hình trường nội trú vùng cao bằng cách vận động bà con kiếm gỗ rừng làm trường học. Có trường, thầy vào tận các bản xa xôi tìm những em có hoàn cảnh khó khăn đưa ra nuôi ăn học. Như đêm tối gặp đèn, nhiều người đã gùi gạo, cõng con đến trường giao hẳn cho thầy. Lúc ấy thầy Văn vừa là thầy, vừa là anh, là cha của các em. Mỗi ngày học một buổi, buổi còn lại thầy trò ra rẫy tự sản xuất lương thực. Những em lớn cùng thầy chăn nuôi, trỉa lúa; các em nhỏ trồng rau, xuống suối bắt cá...bằng đồng lương ít ỏi của mình thầy Văn dành dụm về đồng bằng mua sách vở, bút mực lên trang bị cho các em có học. Bao nhiêu tình thương của người cha anh đã dành hết cho những đứa học trò nghèo. Chỉ vài bát gạo, quả chuối, đu đủ, vài con cá dưới suối được câu về anh cũng chế biến thành bữa ăn ngon cho các học trò của mình.
Năm năm ở Húc Nghì, thầy Văn đã tự sản xuất, nuôi dạy 47 học sinh theo học hết cấp một. Lúc ấy ở miền núi Quảng Trị chưa có trường trung học cơ sở, học sinh của thầy Văn học xong tiểu học phải ở nhà, muốn học lên nữa cũng không có lớp. Sau nhiều lần suy nghĩ, thầy quyết định mở lớp "nhô" đầu tiên cho toàn bộ khu vực (học sinh học xong lớp 5 được tiếp tục học lên lớp 6 ngay tại trường tiểu học). Một số giáo viên tự nguyện đứng ra dạy học. Lớp 6 nhô đầu tiên của trường chỉ có 20 học sinh. Từ lớp học đầu tiên manh nha đó, đến bây giờ đã có hàng trăm em theo học các lớp 7,8 và 9 , ăn ở nội trú quanh năm tại trường. Nhờ sự kiên trì vận động của anh, ngoài việc dạy học các cấp, anh đã giúp xoá mù chữ cho bà con hàng chục xã vùng cao Quảng Trị biết đọc, biết viết cái chữ Bác Hồ. Nhiều học sinh của thầy Văn giờ đã trở thành cán bộ cốt cán của địa phương.

Đọc thư nhà giữa rừng Trường Sơn
Đang kể chuyện, bỗng dưng thầy Văn chùng giọng xuống: "Ai chẳng có gia đình để nhớ để thương, nhưng vì đã lỡ quá yêu thương các học trò rồi, nên không đành bỏ các em về với đồng bằng". Có lần, người yêu tìm vào xã Húc Nghì thăm thầy Văn, do sống với bà con dân bản quá lâu ngày nên nước da, đầu tóc của thầy y hệt người miền núi. Gặp thầy Văn, chị Tuyên nhận không ra người yêu của mình, chị dừng lại hỏi đường đến Húc Nghì, thầy Văn chỉ đường cho người yêu đến trước rồi mình về sau với học trò. Về đến trường, mọi người bảo thầy Văn đưa các em đi lao động ngoài rừng, chị Tuyên quay trở lại ôm lấy người yêu của mình mà khóc nức nở. Bây giờ anh chị đã cưới nhau thành vợ thành chồng. Nhớ lại ngày đó, chị Tuyên kể vui : "Anh đi quá lâu ngày đến nổi màu da, giọng nói, nụ cười cũng mang màu rừng xanh". Thế rồi, không mấy lần thầy Văn được về phép thăm vợ con. Vài năm thầy mới về nhà được một chuyến, chưa kịp thăm hết bà con, anh lại ra đi vì để các em nhỏ ở một mình giữa rừng thầy không yên.

Trở về cuộc sống giữa rừng sâu, mỗi lần nhận được thư gia đình như ai tặng quà. Mỗi lá thư người nhà gửi từ tỉnh Quảng Bình vào đến Húc Nghì mất hàng chục ngày mới đến. Khi thư đến tay phải mất thêm mấy hôm nữa, vì các bản lẻ cách nhau cả ngày đường đi bộ. Có khi cả tháng trời người đưa thư mới gộp lại tất cả rồi đến đưa thư cho anh một lần với hàng chục lá khác nhau. Lần đầu mới nhận thư, thầy đọc từ lá gửi đầu tiên đến lá thư cuối cùng. Sau đó, nhìn vào dấu bưu điện, thư nào gửi có thời gian gần nhất sẽ đem đọc trước. Cũng vì quá xa xôi cách trở, có dạo đầu năm 1993, thầy Văn đã nhận cùng lúc hai lá thư của người vợ ở quê nhà, đọc xong thư anh không tin nổi vào mắt mình, thư báo tin con trai anh bị ốm và đã qua đời. Anh gục đầu xuống sàn nhà, học sinh cầm tay gọi thầy, anh mới tỉnh lại. Cả xã Húc Nghì đưa anh ra đường đón xe về quê, nhưng phải mất thêm ba ngày mới có một chuyến xe đi qua. Ngày anh về đến nhà cũng là lúc gia đình đã lo xong lễ bảy ngày cho đứa con trai xấu số của anh. Thương con, ngồi nói chuyện mà nhiều lần anh tự trách mình do quá ít  về nhà nên con trai cũng không quen nổi mặt cha. Gần ba mươi năm sống giữa rừng nuôi dạy học trò, nhiều lúc người ta nghi ngờ lòng tốt của anh, bởi vì trước đó chưa có ai dám hy sinh cả tuổi thanh xuân, gia đình của mình. Bỏ qua tất cả, thầy Văn chỉ quan tâm: "Còn rất nhiều học trò nghèo khổ muốn học được cái chữ của Bác Hồ, mình phải dạy học để nhiều con em dân tộc Vân Kiều, Pa Cô mang họ Bác vượt qua được đói nghèo, tăm tối ". Bây giờ thầy đang giữ trọng trách là hiệu trưởng trường tiểu học vùng cao xã Húc Nghì, huyện Đakrông. Ngôi trường cho các em học đã được Nhà nước xây dựng khang trang hơn. Nhưng chừng đó cũng chưa đủ để bù đắp được nỗi vất vả nhọc nhằn. Nhận xét về thầy Văn, ông Lê Khước- Trưởng Ban Dân tộc và Miền núi tỉnh Quảng Trị nói: "Thầy Hà Công văn là một điển hình trong phong trào thi đua yêu nước xây dựng Tổ quốc trong thời kỳ đất nước đổi mới. Mấy chục năm qua, anh đã cống hiến tất cả tất cả sức lực và trí tuệ của mình, góp phần làm cho sự nghiệp giáo dục miền núi Quảng Trị không ngừng khởi sắc. Trong công cuộc xây dựng đất nước hôm nay, rất cần có những con người như thầy giáo - Anh hùng Lao động Hà Công Văn". Ðời người rồi cũng qua, "tài sản" quý giá anh Hà Công Văn để lại cho đất nước đó là hàng ngàn người Vân Kiều, Pa Cô trên rẻo cao Trường Sơn được học cái chữ của Bác Hồ để bà con có thêm điều kiện vươn lên hoà nhập với cộng đồng các dân tộc anh em.       Bây giờ là tháng tám, những ngày hè nặng nhọc giúp gia đình băng rừng tìm măng giang của học sinh miền núi gần kết thúc, một năm học mới sắp bắt đầu. Anh hùng Lao động Hà Công Văn lại phải lặn lội đến từng bản xa gọi các em học sinh đến tựu trường. Tạm biệt anh Hà Công Văn giữa đại ngàn Trường Sơn, tôi lên xe và chỉ mất hai giờ sau đã về đến phố thị Đông Hà. Cũng đoạn đường ấy, gần ba mươi năm trước anh Hà Công Văn phải đi bộ mất ba ngày đường mới đến nơi.

Việt Yên - Báo Đại đoàn kết

Arrow2 Người gieo chữ giữa đại ngàn
Arrow2 Tỷ phú một chân
Arrow2 "Vượt biên" cứu người