Title_left HỒ SƠ THÀNH TÍCH Title_right
 
Zoom
 
No-person-img
Nhà báo Chí Dũng
No-person-img
Nhà báo Dương Thuấn
No-person-img
Nhà báo Dương Trung Quốc
No-person-img
Nhà báo H'Linh Nie
No-person-img
Nhà báo Hải Yến
No-person-img
Nhà báo Hồng Hải
No-person-img
Nhà báo Hà An
No-person-img
Nhà báo Hà Văn Thịnh
No-person-img NHÀ BÁO SONG THÀNH

ĐỒNG THUẬN XÃ HỘI VÀ TINH THẦN KHOAN DUNG HỒ CHÍ MINH, MỘT NHÂN TỐ ĐỂ
THỰC HIỆN ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC

 

Đ

ại đoàn kết dân tộc là một truyền thống quý báu, một sức mạnh vĩ đại đã được thách thức trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa và không ngừng phát huy sức mạnh đó, nâng lên tầm cao mới, mở ra những nội dung mới phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của mỗi giai đoạn cách mạng. Nhận thức và xử lý đúng đắn những nhân tố mới là điều kiện cơ bản để không ngừng củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân trong mỗi thời kỳ.
1. Xây dựng sự đồng thuận xã hội - một nội dung mới của đại đoàn kết toàn dân tộc.
Trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc, thì "không có gì quý hơn độc lập tự do" là chân lý, là mục tiêu chung tạo cơ sở cho đại đoàn kết, nhờ đó mà toàn dân ta đã ra sức thực hiện lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh "quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy". Sau khi đã giành độc lập, thống nhất tổ chức, sức mạnh của ý chí đấu tranh cho độc lập, tự do được chuyển thành sức mạnh xây dựng xã hội mới, đại đoàn kết dân tộc phải đề ra mục tiêu và nội dung mới, thì mới quy tụ được mọi tầng lớp nhân dân.
Từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Trong việc phá hoại chống kẻ thù đòi độc lập thì dễ dàng kéo cả toàn dân. Trong việc kiến thiết thì khó kéo hơn, vì nó đụng chạm đến quyền lợi riêng của một đôi giai từng trong nước"1. Ngày nay cũng vậy, thời kỳ mới, tình hình mới, cũng đặt ra cho vấn đề đại đoàn kết dân tộc những nội dung mới, yêu cầu mới.
Trước đây, trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước Cương lĩnh đại đoàn kết của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã đề ra mục tiêu là phải tạo ra được sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân miền Bắc để thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Sau khi thống nhất đất nước, vấn đề đại đoàn kết dân tộc lại đặt ra những yêu cầu mới. Đặc biệt là từ Đại hội VI (1986), khi Đảng ta đề ra đường lối đổi mới, thì cùng với những biến đổi to lớn về kinh tế - xã hội, cơ cấu giai cấp - xã hội ở nước ta cũng thay đổi theo, do đó phạm vi, mục tiêu và phương thức thực hiện đại đoàn kết cũng cần có sự thay đổi cho phù hợp.
Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng ta đã khẳng định: động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân. Phạm vi đoàn kết ngày nay rất rộng, bao gồm "các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng lớp, thành phần kinh tế, mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi vùng của đất nước, người trong Đảng, người ngoài Đảng, người đang công tác và người đã nghỉ hưu, mọi thành viên trong đại gia đình dân tộc Việt Nam, dù sống trong nước hay ở nước ngoài"2.
Mục tiêu chung của đại đoàn kết hiện nay là "giữ vững độc lập, thống nhất, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh"3. Mục tiêu đó phản ánh lợi ích, nguyện vọng chung của toàn thể dân tộc Việt Nam đồng thời cũng thể hiện sự thừa nhận và tôn trọng mục tiêu riêng, lợi ích riêng của các giai cấp, các tầng lớp, các thành phần kinh tế, nhằm vào mục tiêu chung là làm cho đất nước giàu mạnh lên. Muốn cho nước mạnh, thì phải làm cho dân giàu, trong đó ai cũng có mục tiêu riêng, có quyền được làm giàu một cách chính đáng. Nhưng làm giàu cho đất nước và làm giàu cho bản thân và gia đình mình không phải lúc nào cũng tương hợp với nhau, vả lại không thể thực hiện giàu có đồng đều ngay một lúc, những người có điều kiện thuận lợi sẽ giàu lên trước. Vì vậy, để đề phòng cách làm giàu bằng những thủ đoạn bất chính và khắc phục sự phân hoá giàu nghèo, Nhà nước thực hiện cơ chế dân chủ, và phải thực hiện các chính sách pháp luật nhằm nâng cao phúc lợi xã hội, điều chỉnh và giải quyết các mâu thuẫn nội bộ có thể nẩy sinh, nhằm mục tiêu xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Để thực hiện đại đoàn kết, như Nghị quyết Đại hội IX của Đảng đã chỉ ra: 1. Về kinh tế là "kết hợp hài hoà các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội". 2. Về chính trị -tinh thần là "tôn trọng những ý kiến khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc, xoá bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, giai cấp, thành phần, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau, hướng tới tương lai".
Ở thời kỳ quá độ, khi còn nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, nhiều giai cấp và tầng lớp xã hội khác nhau, thì vẫn còn có sự khác nhau nhất định về những mục tiêu cụ thể. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII và lần thứ IX, cũng như Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) đã nói rõ: Ngày nay đại đoàn kết phải lấy mục tiêu chung là độc lập dân tộc, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng, đồng thời chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc. Tuy nhiên, như Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã phát biểu: "Chúng ta cần làm rất nhiều để các điểm tương đồng ngày càng được phát huy và nhân lên, những điểm còn khác nhau ngày càng giảm thiểu"5. Từ đó, Tổng Bí thư yêu cầu phải tăng cường công tác chính trị, tư tưởng, nâng cao trách nhiệm công dân, xây dựng sự đồng thuận xã hội6.
Đồng thuận không có nghĩa là không còn sự khác biệt, mà vẫn còn sự khác nhau, nhưng thoả thuận cùng nhau hành động để thực hiện mục tiêu chung. Đồng thuận cũng không phủ nhận sự đấu tranh giữa các ý kiến, quan điểm, xu hướng còn khác nhau đồng thời loại trừ những gì có thể làm tổn hại mục tiêu chung. Nói cách khác, đồng thuận chấp nhận còn mâu thuẫn, khác biệt nhưng phải giải quyết nó bằng thương lượng và hiệp thương. Trên ý nghĩa đó, đồng thuận xã hội được coi là một trong những giá trị cơ bản trong một chế độ dân chủ.
Ngày nay, mối quan hệ giữa các  gia cấp, tầng lớp xã hội ở thời kỳ quá độ nước ta là quan hệ hợp tác và đấu tranh trong nội bộ nhân dân, do đó cần khuyến khích trao đổi, tranh luận với tinh thần xây dựng về những vấn đề có ý kiến khác nhau, tránh chụp mũ, áp đặt, đồng thời chủ trương "kết hợp thực hiện chế độ tập trung dân chủ trong Đảng và chế độ hiệp thương dân chủ trong tổ chức Mặt trận để làm phong phú thêm nền dân chủ ở nước ta"7.
Đồng thuận là sự thoả thuận về cái chung, cái cơ bản nhất đồng thời vẫn chấp nhận những sự khác biệt nhất định về dân tộc, tôn giáo, ngôn ngữ, văn hoá, lợi ích... trong xã hội. Tinh thần đồng thuận ấy do đó đã gắn bó với tinh thần khoan dung, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Dân tộc ta là dân tộc giàu lòng đồng tình và bác ái". Theo tinh thần ấy, đồng thuận và khoan dung được coi như là những nhân tố cơ bản để thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc.
2. Khoan dung Hồ Chí Minh với vấn đề đại đoàn kết dân tộc.
Khoan dung trước hết là sự thừa nhận và tôn trọng sự khác nhau của những người trong cộng đồng dân tộc; là chấp nhận sự khác biệt về văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng... giữa các dân tộc khác nhau để cùng tồn tại và phát triển. Khoan dung là cùng hài hoà trong khác biệt, là thái độ ứng xử tích cực không cố chấp, là học cách nghe, cách thông tin, cách hiểu người khác để chia sẻ, cảm thông, miễn là những khác nhau đó không có hại gì cho lợi ích chung của cộng đồng. Khoan dung đòi hỏi phải được xây dựng trên các nguyên tắc: công lý, chính nghĩa, tự do, bình đẳng, tiến bộ... nó chống lại mọi thái độ kỳ thị, cuồng tín, giáo điều cũng như mọi thoả hiệp, nhân nhượng vô nguyên tắc với tội ác, bất công, với tất cả cái gì chà đạp lên "quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc" của mỗi con người và mỗi dân tộc.
Khoan dung Hồ Chí Minh là sự tiếp thu có chọn lọc các giá trị của nhân loại và dân tộc đồng thời là sự phát triển các giá trị đó lên một chất lượng mới, có hệ thống và hoàn chỉnh, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Nghiên cứu tinh thần khoan dung Hồ Chí Minh cho thấy mấy đặc trưng cơ bản sau đây:
- Khoan dung Hồ Chí Minh đã kết hợp được lương tri của cá nhân với lương tri dân tộc và lương tri thời đại để đạt tới sự hài hoà cá nhân, dân tộc và nhân loại. Hồ Chí Minh đã thực hiện được sự kết hợp giữa đấu tranh giải phóng dân tộc mình với đấu tranh giải phóng những người bị áp bức khỏi các lực lượng thống trị, thực hiện tình yêu thương và bác ái. Vì vậy, loài người tiến bộ đã tìm thấy ở Hồ Chí Minh biểu tượng cao đẹp của lương tri thời đại.
- Khoan dung Hồ Chí Minh đã kết hợp giữa Nhân và Trí, tức là giữa tình cảm nồng nàn và lý tưởng trong sáng, do đó đã vượt qua được những nhược điểm và hạn chế như thiên về tình cảm kiểu "yêu nên tốt, ghét nên xấu" và những lệch lạc khác. Vì vậy, Người đã được thừa nhận là "một lãnh tụ có sự kết hợp hiếm có giữa lòng khoan dung tột độ là ý chí kiên quyết nhất"(J.Nerhu).
- Khoan dung Hồ Chí Minh là sự tôn trọng đối với mọi giá trị khác biệt trong văn hoá nhân loại, là không ngừng mở rộng để thâu hoá những yếu tố tích cực, tiến bộ và nhân văn của thế giới để làm giàu cho văn hoá Việt Nam, đồng thời chấp nhận giao lưu đối thoại bình đẳng để đạt tới cùng phát triển. Trong một thế giới có giao lưu và tồn tại giữa cái chung và cái riêng, cái đồng nhất và dị biệt, Hồ Chí Minh chấp nhận đối thoại để tìm ra cái chung. Người từng nói: "Tuy phong tục mỗi dân mỗi khác, nhưng có một điều thì dân nào cũng giống nhau. Ấy là dân nào cũng ưa sự lành và ghét sự dữ".
Tóm lại, khoan dung Hồ Chí Minh là sự thống nhất cả Tâm, Đức, Trí - một tinh thần khoan dung được xây dựng trên tầm văn hoá cao, kết hợp được tình cảm với lý trí, nhận thức với hành động, yêu thương với đấu tranh - một bước phát triển mới của tinh thần khoan dung Việt Nam.
Chính tinh thần khoan dung Hồ Chí Minh là nguồn nuôi dưỡng, dẫn dắt, thúc đẩy sự phát triển của tinh thần khoan dung Việt Nam - một nhân tố cơ bản góp phần vào sự nghiệp đại đoàn kết của toàn dân tộc. Người khuyên nhân dân ta phải đoàn kết chặt chẽ và rông rãi: "Năm ngón tay cũng có ngón ngắn ngón dài... Trong mấy triệu người cũng có người thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ. Ta phải nhận rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hoá họ. Có như thế mới thành đại đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc sẽ vẻ vang".
Chính sách đại đoàn kết dân tộc và tấm lòng khoan dung, độ lượng của Bác Hồ đã làm thất bại mọi âm mưu chia rẽ của kẻ thù, đã cảm hoá được nhiều nhân sĩ, trí thức có tên tuổi, kể cả các quan lại cao cấp của chế độ cũ đi theo cách mạng, không quản ngại gian khổ, hy sinh, như Khâm sai đại thần Phan Kế Toại, Thượng thư Bùi Bằng Đoàn, Đốc lý Hà Nội Trần Văn Lai...
Ngay cả với những người đối lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng vẫn thể hiện một tinh thần khoan dung hiếm có khi họ đã ăn năn, hối cải hoặc đã lâm vào cảnh bần cùng, thất thế. Chỉ ít ngày sau lễ ra mắt của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cử ông Hoàng Minh Giám đi tìm Trần Trọng Kim, nguyên Thủ tướng Chính phủ bù nhìn do Nhật lập lên ngày 17-4-1945, nghe nói mới từ Huế ra Hà Nội. Nhưng tiếc rằng khi ông Giám tìm được đến nhà thì Trần Trọng Kim đã rời khỏi Hà Nội rồi.
Tuyên bố với báo chí về cái chết tự vẫn của bác sĩ Nguyễn Văn Thinh, người đã từng làm Thủ tướng bù nhìn của cái gọi là "Cộng hoà Nam Kỳ tự trị" do quân viễn chinh Pháp dựng lên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Về chính trị, ông Nguyễn Văn Thinh đã đi lầm đường, nên đã bị cô lập, nhưng ông đã chết đi, dù sao nước Việt Nam cũng mất một bác sĩ mà nước Việt Nam đang cần những nhân tài như ông để kiến thiết".
Còn có thể dẫn chứng rất nhiều câu chuyện cảm động nói lên đức nhân ái bao dung của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Tinh thần khoan dung của Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là một sách lược mà là sự kế tục và phát triển truyền thống nhân ái, bao dung của dân tộc ta, và đã biểu hiện nhất quán trong đường lối, chính sách của Đảng ta. Đối với Hồ Chí Minh, khoan dung chính là một biểu hiện sức mạnh của cách mạng, chỉ có những cuộc cách mạng chân chính, được lòng dân, mới có sức thuyết phục, cảm hoá đối với trái tim và khối óc của quần chúng, bao gồm cả những người lầm lạc, chống đối. Tinh thần đó được biểu hiện trong tuyên bố nổi tiếng của Người: "Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dù người đó trước đây chống lại chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà, đoàn kết với họ".
Với tôn giáo, Hồ Chí Minh thành thật tôn trọng đức tin của người có đạo, khẳng định lẽ sống cao đẹp, những giá trị đạo đức - nhân văn của các vị sáng lập, không hề bài bác, phủ định và khéo hướng các tôn giáo vào mục tiêu giải phóng dân tộc và mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân. Phát biểu trong bữa tiệc đoàn kết Lương - Giáo tại chùa Bà Đá chiều 16-10-1945, Người nói đại ý: "Mặc dầu hai tôn giáo có hai lý tưởng khác nhau nhưng tôn giáo nào cũng ở từ bi, nhân đạo mà ra, thì không lý gì lúc nào cũng là con dân Việt Nam, lại không thể có sự đoàn kết giữa hai tôn giáo được".
Hồ Chí Minh luôn luôn tìm ra những điểm tương đồng giữa lý tưởng của các tôn giáo với lý tưởng của nhân dân ta đang theo đuổi. Mùa hè năm 1946, tại Paris, Người đã tiếp một nhóm linh mục công giáo đến thăm, trong đó có linh mục Cao Văn Luận, một người công giáo xác tín, chống cộng. Sau này, linh mục đã thuật lại trong cuốn hồi ký của mình lời của Hồ Chí Minh trong buổi gặp: "Mục đích của Chính phủ ta là đeo đuổi chiến đấu vì nền độc lập và đem lại hạnh phúc cho nhân dân. Để đạt hạnh phúc đó, mọi người cần phải xây dựng chủ nghĩa xã hội".
Người nhắc nhở: Các tôn giáo tuy khác nhau nhưng có một điểm chung là đều phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Tại cuộc họp mặt đại biểu các tôn giáo, đảng phái tại chùa Bà Đá chào mừng Chính phủ liên hiệp lâm thời vừa thành lập, chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Tín đồ Phật giáo tin ở Phật; tín đồ Giatô tin ở Đức Chúa trời; cũng như chúng ta tin ở đạo Khổng. Đó là những vị chí tôn nên chúng ta tin tưởng. Nhưng đối với nhân dân, ta đừng có làm gì trái ý dân. Dân muốn làm gì, ta phải làm nấy"15.
Tinh thần khoan dung Hồ Chí Minh đang được Đảng ta kế thừa và phát triển trong tình hình mới của đất nước. Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi phải tập hợp và lôi cuốn được đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia, để làm cho đất nước giàu mạnh, có vị trí xứng đáng trên thế giới trong thế kỷ XXI. Hiện nay, như Đảng ta nhận định: khối đại đoàn kết toàn dân tộc, mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước và nhân dân chưa thật bền chặt và đang đứng trước những thử thách mới. Do đó, để tạo ra sự đồng thuận xã hội, chúng ta cần ra sức bồi dưỡng và phát triển tinh thần khoan dung Hồ Chí Minh, một nhân tố cơ bản để thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc.
3. Bồi dưỡng và phát triển tinh thần khoan dung Hồ Chí Minh để tạo ra sự đồng thuận xã hội, thực hiện đại đoàn kết.
Bồi dưỡng và phát triển tinh thần khoan dung Hồ Chí Minh đang là một yêu cầu cấp bách để tạo ra sự đồng thuận xã hội, củng cố và mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc. Hiện nay, có một số người còn thiếu lòng nhân ái, khoan dung. Có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân còn thiếu một nền tảng văn hoá khoan dung, chạy theo lối sống buông thả, vật chất, thực dụng... nên hễ có va chạm nhỏ là có thể gây ra những cảnh đau lòng!
Giáo dục tinh thần khoan dung là biện pháp hữu hiệu để khắc phục thái độ cố chấp, để thực hiện đại đoàn kết. Bồi dưỡng và phát triển tinh thần khoan dung là làm cho mọi người biết tôn trọng các nền văn hoá trong một thế giới mở cửa, hội nhập. Mỗi con người được sinh ra trong một hoàn cảnh nhất định, là sản phẩm của một truyền thống lịch sử và văn hóa nhất định, có mầu da và ngôn ngữ khác nhau, có tâm lý, tính cách, sở thích khác nhau, theo đuổi những giá trị và những điều xác tín... không giống nhau; nhưng tất cả đều mong muốn được sống một cuộc sống tốt đẹp. Nhưng trong khi khẳng định và củng cố cái thiên hướng và bản sắc riêng của mình, lại phải biết tôn trọng bản sắc của người khác. Nói cách khác, không ai được áp đặt ý kiến, quan điểm, sự lựa chọn của mình cho người khác. Như vậy, khoan dung rất gắn với dân chủ, nó bác bỏ chuyên chế và mọi vi phạm đến những quyền cơ bản của con người và quyền của các dân tộc.
Ngày nay, khi mở cửa, hội nhập đang diễn ra trên quy mô toàn thế giới, các nền văn hoá đang có sự giao thoa ngày càng nhiều. Trong tình hình đó, con người càng cần đến khoan dung. Khoan dung càng trở thành một phẩm chất không thể thiếu của con người văn minh để cùng chung sống trong một thế giới cộng sinh, "cộng sinh giữa cái riêng với cái chung, cái đơn nhất với cái đa dạng, cái nội sinh với cái ngoại lai trên cơ sở triết lý nhân văn rất sâu sắc ở mọi nền văn hoá lớn, nhỏ trên trái đất này"16.
Ở nước ta, một trong những thành tựu quan trọng của công cuộc đổi mới là đã đem lại sự đa dạng, phong phú hơn về định hướng giá trị cho mỗi cá nhân. Cuộc sống có nhiều giá trị: giá trị đạo đức, giá trị văn hoá, giá trị kinh tế, giá trị pháp lý; có quan niệm đa dạng, phong phú về cái đẹp, về hạnh phúc, về nhân cách, về tập quán, tín ngưỡng, về lợi ích... Mọi người đều có thể theo đuổi những giá trị khác nhau đó miễn là không hại đến mục tiêu chung là "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh". Đó cũng là yếu tố quan trọng để thực hiện đại đoàn kết. Giáo dục tinh thần khoan dung cũng là mở rộng sự hiểu biết cho thế hệ trẻ về những bản sắc độc đáo, về những giá trị tích cực của các nền văn hoá, tôn giáo, ngôn ngữ, phong tục tập quán,.. của các dân tộc anh em trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, cũng như của các quốc gia khác trên thế giới, nhằm tránh những định kiến và kỳ thị không đáng có, đồng thời còn phải giúp cho thế hệ trẻ phát triển năng lực nhận thức có phê phán, có khả năng suy nghĩ độc lập, biết lập luận, đánh giá có căn cứ xác đáng, dựa trên các tiêu chí của đạo đức, khoa học và nhân văn để tránh bị cuốn theo những thủ đoạn tuyên truyền lừa mị, phục vụ cho mục tiêu đen tối của các thế lực phản động.
Từ ý nghĩa của khoan dung và tầm quan trọng cấp bách của việc giáo dục, hình thành văn hoá khoan dung cho thế hệ trẻ cũng như hình thành sự đồng thuận xã hội, ta càng nhận chân giá trị của tinh thần khoan dung Hồ Chí Minh. Với tầm cao và tính hoàn chỉnh của nó, tinh thần khoan dung Hồ Chí Minh là một sức mạnh để tạo nên sự đồng thuận xã hội. Trên ý nghĩa đó, càng thêm tự hào về Bác Hồ kính yêu, lãnh tụ sáng suốt, nhà văn hoá kiệt xuất, với những tư tưởng, văn hoá, đạo đức đang tiếp tục toả sáng cho mọi nền văn hoá trong tương lai

Song Thành

 

Arrow2 Tác phẩm "Đồng Thuận xã hội và tinh thần khoan dung Hồ Chí Minh"