Title_left HỒ SƠ THÀNH TÍCH Title_right
 
Zoom
 
Maibuuminh
Nhà Báo Mai Bửu Minh
No-person-img
Nhà báo Minh Huệ, Doãn Chiêu
No-person-img
Nhà báo Ngọc Quang, Viết Thông
No-person-img
Nhà báo Ngọc Tấn
No-person-img
Nhà báo Ngô Thanh
No-person-img
Nhà báo Nguyễn Đức Tuấn
No-person-img
Nhà báo Nguyễn Hồng Hải
No-person-img
Nhà báo Nguyễn Huy Nam
No-person-img NHÀ BÁO PHAN HỮU DẬT

TÌM HIỂU TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐÀO TẠO CÁN BỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở NƯỚC TA

 

Từ những bài viết và bài nói của Hồ Chí Minh trong một phần tư thế kỷ, từ năm 1945 đến năm 1969, có thể nêu lên mấy suy nghĩ bước đầu về tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số, nhằm góp phần vào việc xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở nước ta.
Đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số - một nhiệm vụ trọng yếu trong quan điểm về chính sách dân tộc của Hồ Chí Minh, của Đảng và Nhà nước ta.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đường lối cách mạng Việt Nam nói chung và về chính sách dân tộc của một nước đa dân tộc nói riêng, Người rất coi trọng nhiệm vụ đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số. Trong nhiều bài nói và viết của Hồ Chí Minh đều toát lên tư tưởng nhất quán của Người là "Phải chủ trương đào tạo, bồi dưỡng, cất nhắc cán bộ miền núi". Người đã đặt vấn đề phải đào tạo cán bộ cho miền núi một cách cơ bản và coi đó là một khâu quan trọng không thể tách rời của hệ thống giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ cho miền núi.
Về nhiệm vụ, mục tiêu của công tác đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số.
Nước ta là một nước có nhiều thành phần dân tộc. Mỗi công dân của nước ta phải nuôi dưỡng hai loại ý thức: ý thức quốc gia, dân tộc - dân tộc Việt Nam và ý thức dân tộc của riêng dân tộc mình. Trong thư gửi học sinh trường Sư phạm miền núi Trung ương, nhân dịp khai trường (19 - 3- 1955), Người căn dặn: "Nhiệm vụ của các cháu là thi đua học tập để sau này góp phần vào việc mở mang quê hương của mình và xây dựng nước Việt Nam yêu quý của chúng ta". Từ đó cho thấy trong hai nhiệm vụ của cán bộ dân tộc thiểu số, trước tiên Người đề cập đến nhiệm vụ mở mang quê hương, sau đó là nhiệm vụ xây dựng Tổ quốc nói chung. Cố nhiên không phải Người xem trọng quê hương riêng của dân tộc thiểu số hơn là xây dựng Tổ quốc Việt Nam. Cả hai nhiệm vụ đó đối với công dân nước ta đều là quan trọng. Nhưng có thể hiểu rằng thực hiện chính sách dân tộc, xây dựng nông thôn mới ở vùng dân tộc được chế độ mới đào tạo, cho nên cần nhấn mạnh trách nhiệm của cán bộ dân tộc. Người phê phán một số thanh niên nông thôn không có tinh thần xây dựng nông thôn mà chỉ muốn đi vào thành thị. Trong bài nói với đồng bào tỉnh Thái Nguyên và công nhân khu gang thép (1/1/1964), sau khi nhắc đến các công trường thanh niên lao động Xã hội chủ nghĩa, Người nói: "Nên củng cố tốt và phát triển tốt những trường như thế để đào tạo cán bộ cho nông thôn". Khi nói về các quan hệ giữa cán bộ các nơi khác đến cán bộ địa phương  (8 - 10 1961), Người căn dặn: "... người Kinh phải giúp đỡ anh em cán bộ địa phương tiến bộ, để anh em tự quản lý lấy công việc ở địa phương, chứ không phải là bao biện hay làm thay".
Về cơ cấu đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số.
Đội ngũ cán bộ dân tộc phải gồm những người thuộc trình độ học vấn khác nhau và gồm nhiều ngành nghề khác nhau: Cán bộ chính trị, kinh tế, văn hoá, cán bộ khoa học, cán bộ quản lý. Cán bộ  khoa học bao gồm khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội nhân văn, giáo dục, y tế vv... Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề xây dựng đội ngũ cán  bộ người dân tộc thiểu số cho cấp cơ sở, vì đội ngũ này giữ vị trí rất quan trọng trong hệ thống cán bộ.
Về thành phần xã hội, đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số phải bao gồm công nhân và tầng lớp lao động trí óc.
Nước ta đang xây dựng chủ nghĩa xã hội, do Đảng Cộng sản lãnh đạo, việc đào tạo và tăng cường thành phần công nhân trong đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số là điều cần thiết. Người nói: "Giai cấp công nhân phát triển trong các dân tộc thiểu số khá nhiều. Ở các mỏ apatít Lào Cai, mỏ thiếc Cao Bằng, khu gang thép Thái Nguyên, công nhân người các dân tộc rất đông. Hồi trước mấy cô bé dân tộc hay xấu hổ. Bây giờ đã lái được xe, lái được máy xúc, không kém gì công nhân nam giới. Đó là một tiến bộ rất lớn".
Đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số cho nông thôn miền núi là sự quan tâm to lớn và thường xuyên của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Muốn xây dựng nông thôn ở miền núi, phải có một đội ngũ cán bộ nông thôn hùng hậu. Nói chuyện với đồng bào và cán bộ tỉnh Cao Bằng (21-2-1961), người đã nhấn mạnh đến nhiệm vụ đào tạo và tăng cường cán bộ tri thức là người dân tộc thiểu số phục vụ cho các ngành kinh tế của đồng bào.
Chăm lo đào tạo cán bộ nữ trong đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số nước ta.
Có thể nói đây là sự quan tâm to lớn và đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phụ nữ, với số lượng chiếm một nửa số dân nước ta, với khả năng và sự đóng góp to lớn của phụ nữ trong cách mạng và kháng chiến; dưới chế độ thực dân và nửa phong kiến phụ nữ lại chịu thiệt thòi và đau khổ, chịu sự bất bình quyền với nam giới, chịu sự thống trị của thần quyền, vì vậy Hồ Chí Minh quan tâm đến vấn đề giải phóng phụ nữ. Thăm trường Sư phạm miền núi Nghệ An (9-2-1961), khi được biết trong số học sinh người Tày Hạy không có cháu gái, Người đã nói: "Sao không có cháu gái? lần sau phải có cháu gái". Khi biết trong số hơn 200 đại biểu Hội nghị tuyên giáo miền núi (1963) mà chỉ có 5 phụ nữ, trong số đó lại không có một phụ nữ dân tộc thiểu số nào, Người đã nhắc nhở "Trong mọi mặt hoạt động cách mạng, phụ nữ các dân tộc thiểu số đều có đóng góp lớn lao. Một cuộc họp như thế này mà quên mất vai trò của phụ nữ thì chắc ở địa phương các chú cũng quyên mất vai trò phụ nữ, và Người nhấn mạnh là phải quan tâm bồi dưỡng cán bộ địa phương; cán bộ phụ nữ và cán bộ xã về mọi mặt. Người chủ trương: "Đảng uỷ các cấp ở miền núi cần phải ra sức phát triển đảng viên và đoàn viên phụ nữ, cần đào tạo và giúp đỡ các dân tộc".
Đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số phải bao gồm đồng bộ cán bộ Trung ương và cán bộ địa phương.
Theo Hồ Chí Minh cán bộ có hai loại: cán bộ Trung ương và cán bộ địa phương. Người thường nhắc đến cán bộ địa phương: "Các cán bộ địa phương thuộc các dân tộc phải ra sức công tác học tập văn hoá, chính trị và nghiệp vụ, đoàn kết chặt chẽ với anh em, cán bộ ở nơi khác đến".
Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh quan điểm xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số  ở  Trung ương và địa phương phải đông đảo về số lượng và đảm bảo về chất lượng. Dù cán bộ ở Trung ương  tỉnh, huyện, xã đều phải tận tuỵ phục vụ nhân dân.
Về chính sách cán bộ đối với cán bộ dân tộc thiểu số.
Hồ Chí Minh luôn kiên trì quan điểm phải chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, cất nhắc cán bộ miền núi. Đây là ba lĩnh vực trọng yếu, là ba mắt xích cơ bản liên hoàn cấu thành chính sách cán bộ, không được coi nhẹ mặt nào.
Về chính sách đào tạo cán bộ miền núi, Người chủ trương giáo dục là quốc sách hàng đầu, việc học của mỗi con người là suốt đời, càng học càng thấy cần học thêm. Người từng nói:"Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu". Con người được đào tạo là thông qua nhà trường và trong công tác ngoài xã hội, trong đấu tranh cách mạng và còn được giáo dục ở gia đình, nhà trường và xã hội là một vấn đề cực kỳ quan trọng trong  đào tạo cán bộ, kể cả cán bộ dân tộc thiểu số. Chinh sách đó đã thể hiện trong việc Người chăm lo xây dựng hệ thống giáo dục quốc dân, từ xoá nạn mù chữ, xoá tái mù, bổ túc văn hóa, bổ túc công nông, các trường lớp vừa học vừa làm, đến các cấp học phổ thông và đại học. Đặc biệt Người rất quan tâm đến hệ thống các trường sư phạm, Người thường gửi thư, đến thăm và nói chuyện nhiều lần với giáo viên và học sinh các trường sư phạm Trung ương, Sư phạm miền núi và Sư phạm Nghệ An...
Ngay từ giữa thế kỷ XX, Người đã nêu lên vấn đề dân trí thông qua chủ trương diệt giặc dốt, đồng thời với việc diệt giặc đói và giặc ngoại xâm. Việc giải phóng con người khỏi áp bức bóc lột, khỏi mọi sự tha hoá, để mưu cầu hạnh phúc không phải ở thiên đàng, mà ngay trên trần thế. Người còn nói: "Cán bộ địa phương thường có tâm lý tự ti cho mình là văn hoá kém, chính trị kém không muốn làm cán bộ. Như thế là không đúng, nếu như thế không ai làm việc cho đồng bào cả. Việc làm đây là  do cán bộ địa phương tự làm lấy. Vì vậy cho nên còn kém thì phải học. Nhiều cái mình chưa biết, nhưng có quyền quyết tâm học thì phải biết, nhất định phải biết. Biết là tiến bộ". Có như vậy mới "làm cho miền núi kịp tiến miền xuôi".
Trong giáo dục đào tạo, Người chủ trương phải thực hiện nguyên lý giáo dục kết hợp với lao động sản xuất. Người nói: "Hiện nay có hơn 30 trường Thanh niên dân tộc vừa làm để đào tạo cán bộ địa phương, vừa có văn hoá vừa có kỹ thuật, vừa giỏi lao động. Loại trường đó rất tốt, cần giúp cho những trường đó phát triển đúng hướng, đây là trường học để đào tạo cán bộ". Người chủ trương  học tập tốt là chính trị văn hoá, đều phải gắn liền với lao động sản xuất, không học dông dài. Mục đích học là để làm kinh tế, chính trị, văn hoá đều tiến bộ, các dân tộc đều đoàn kết với nhau - Học để làm gì nữa? để xây dựng Chủ nghĩa xã hội".
Đào tạo cán bộ phải toàn diện, để người cán bộ dân tộc vừa có tài vừa có đức, vừa hồng chuyên. Đó là điều Hồ Chí Minh rất quan tâm. Học văn hoá là để xây dựng chủ nghĩa xã hội, là để làm kinh tế, chính trị, văn hoá. Người rất chú trọng thực chất công tác đào tạo, cũng như thực chất giá trị của người được đào tạo. Người từng nói: "Không học dông dài", việc học tập và tuyên truyền chủ nghĩa Mác  - Lê Nin cũng phải thiết thực. Người căn dặn: "Không nên lúc nào cũng trích Các Mác, cũng trích Lê Nin, làm cho đồng bào khó hiểu. Nói thế nào cho đồng bào hiểu được, đồng bào làm được, đó là nói được chủ nghĩa Mác - Lê Nin. Nếu nói không đúng chỗ, không phải là chủ nghĩa Mác - Lê Nin". Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng chính trị, tưởng đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân  trong việc đào tạo cán bộ nói chung, cán bộ dân tộc thiểu số nói riêng. Người chủ trương làm cán bộ là để xây dựng chủ nghĩa xã hội, mưu cầu hạnh phúc cho dân, là để mở mang quê hương người dân tộc, là để xây dựng nước Việt Nam yêu quý, chứ không phải là "Làm quan cách mạng" Cán bộ bất kỳ ở cấp, ngành nào đều là "người đầy tớ trung thành của nhân dân".
Việc đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số phải đặt trong mối quan hệ với cán bộ dân tộc đa số trong quốc gia Việt Nam thống nhất, đa dân tộc. Là công dân của một quốc gia đa dân tộc, có sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, cán bộ dân tộc phải nắm vững chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối cách mạng chung và chính sách dân tộc của Đảng. Mọi cán bộ đều phải thực hiện tốt các nguyên tắc cơ bản của chính sách dân tộc là bình đẳng - đoàn kết - tương trợ - giúp nhau cùng phát triển. Vì vậy, chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiên trì giáo dục tư tưởng đại đoàn kết dân tộc  cho cán bộ và nhân dân các dân tộc.
Vấn đề tiếng nói và chữ viết của các dân tộc là một lĩnh vực rất nhạy cảm, Hồ Chí Minh chủ trương học tiếng quốc ngữ (tiếng dân tộc đa số) và chữ quốc ngữ là nhiệm vụ và quyền lợi của nhân dân và cán bộ dân tộc thiểu số. Hồ Chí Minh một mặt khuyến khích cán bộ nhân dân các dân tộc học tiếng và chữ phổ thông, mặt khác lại khuyên cán bộ đa số và thiểu số phải học tiếng dân tộc, Người nói: "Nước ta có nhiều dân tộc. Đó là điểm tốt. Cán bộ đi làm việc chỗ nào phải học tiếng đấy". Người còn quan tâm đến việc xây dựng chữ viết cho các dân tộc. Người nói: "Đồng bào Thái, đồng bào Mèo, đồng bào Tày, đồng bào Nùng đã có chữ của mình. Như thế là tốt".
 Người nhắc nhở cán bộ phải có ý thức chăm lo giữ gìn bản sắc văn hoá của dân tộc mình. Nói chuyện với cán bộ và học sinh trường Sư phạm miền núi Nghệ An. Người hỏi: "Ở đây có mấy dân tộc? Sao mà lại mặc theo người Kinh cả? các cháu Thổ đâu? Mặc sao giống người Kinh?".
Xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa cán bộ địa phương và cán bộ các nơi khác đến.
Nói chuyện với nhân dân, bộ đội, cán bộ tại Yên Chân tỉnh Sơn La (8/5/1959), Hồ Chí Minh nói: "Cán bộ châu nhà có 2 bộ phận  hợp thành: Một bộ phận  là cán bộ địa phương, một bộ phận là ở nơi khác đến phải đoàn kết thương yêu nhau".
Người hay biểu dương khen ngợi cán bộ miền xuôi lên công tác miền núi. Năm 1960, nói chuyện với nhân dân Cao Bằng, Người nói: "Tôi mạn phép thay mặt đồng bào gởi lời khen ngợi những anh chị em giáo viên đã xung phong lên công tác ở miền núi". Trong công tác đào tạo, giáo dục tư tưởng cho cán bộ. Hồ Chí Minh quan tâm thường xuyên đến vấn đề khắc phục tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi và tự ti dân tộc. Người nói: "Phải khắc phục những tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi và tự ti dân tộc. Người dân tộc lớn dễ mắc bệnh kiêu ngạo, cán bộ địa phương, nhân dân địa phương lại dễ cho mình là dân tộc bé nhỏ, tự ti, cái gì cũng cho mình không làm được rồi không cố gắng, đó là những điểm phải tránh". Người phê bình hiện tượng đồng bào miền xuôi lên miền núi, được đồng bào miền núi giúp đỡ, nhưng có một số ít người lại có hành động không đúng với đồng bào miền núi.
Phải chú trọng cất nhắc cán bộ miền núi.
- Đào tạo cán bộ dân tộc là để sử dụng. Muốn sử dụng phải giao cho họ những nhiệm vụ cụ thể trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đề bạt, cất nhắc giao cho họ nhiệm vụ ngày càng nặng nề hơn nếu họ thể hiện phẩm chất và năng lực tốt. Để sự dụng có kết quả, phải chăm lo cho họ nhiệm vụ ngày càng nặng nề hơn nếu họ thể hiện phẩm chất và năng lực tốt. Để sử dụng có kết quả, phải chăm lo công tác bồi dưỡng thường xuyên và có kế hoạch.
Đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số nước ta là một đề tài cho đến nay vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ. Những trang viết trên đây mới chỉ là những suy nghĩ bước đầu. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ dân tộc thiểu số, cái cốt lõi là di sản tinh thần mà Hồ Chí Minh để lại cho Đảng và nhân dân ta. Nhiều tư tưởng đó hôm nay vẫn còn nguyên giá trị. Theo tư tưởng của Người, có điều ta thực hiện chưa đầy đủ. Những vấn đề như nguyên lý giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nội dung đào tạo toàn diện, công tác đào tạo phải chú trọng thực chất tránh chạy theo hư danh, vấn đề coi trọng mặt đào tạo về chính trị, tư tưởng, phẩm chất đạo đức cách mạng, vấn đề khắc phục tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, tự ti dân tộc, vấn đề tiếng và chữ quốc ngữ, tiếng và chữ dân tộc, vấn đề kết hợp cán bộ địa phương và cán bộ các nơi khác đến, vấn đề giải quyết đồng bộ ba khâu liên hoàn trong chính sách cán bộ: đào tạo, bồi dưỡng, cất nhắc cán bộ miền núi... là những vấn đề đáng cho chúng ta suy nghĩ để vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh mới, để tránh sai lầm, khuyết điểm.
Điều quan trọng nhất là Đảng và Nhà nước cần vạch ra chiến lược về con người dân tộc thiểu số, vì cho đến nay chiến lược con người đã vạch ra mới quan tâm đến dân tộc Kinh, dân tộc đa số. Chỉ sau khi vạch được chiến lược con người dân tộc thiểu số nước ta, thì mới có chỗ dựa vững chắc để xây dựng một đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số phù với  đặc điểm nước ta.

Phan Hữu Dật - Tạp chí Mặt trận

Arrow2 Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số ở nước ta