Title_left HỒ SƠ THÀNH TÍCH Title_right
 
Zoom
 
No-person-img
Nhà báo Tân Linh
No-person-img
Nhà báo Thanh Xuân
No-person-img
Nhà báo Thảo Lư
No-person-img
Nhà báo Thiếu Gia
No-person-img
Nhà báo Thu Loan
No-person-img
Nhà báo Trần Bạch Đằng
No-person-img
Nhà Báo Trần Hậu
No-person-img
Nhà báo Trần Thanh Phương
No-person-img NHÀ BÁO NINH VIẾT GIAO

CỘNG ĐỒNG LÀNG XÃ VÀ ĐOÀN KẾT DÂN TỘC       

 

Cộng đồng làng xã và đoàn kết dân tộc, hai cụm từ ấy tưởng như xa nhau nhưng lại rất gần gũi, gắn bó với nhau. Người Việt Nam đi từ "làng" đến "nước".  Làng là đơn vị hành chính cơ sở, là "vi mô"; nước là quốc gia dân tộc, bao gồm hàng vạn làng dưới một chính thể thống nhất trong một lãnh thổ rộng lớn,  là "vĩ mô". Hai tiếng "làng nước" lúc nào cũng văng vẳng trong ngôn ngữ của mỗi người dân. Làng là một hình ảnh  thu nhỏ của dân tộc. Tuy mỗi vùng, mỗi miền sắc thái văn hoá có khác nhau chút ít, song tựu trung đề tương tự. Tôi sống ở Nghệ Tĩnh, đã tìm hiểu nghiên cứu về Nghệ Tĩnh, nên viết bài này, tôi dùng nhiều  dẫn chứng ở xứ Nghệ. Hy vọng những điều tôi viết dù rất ngắn ngủi, đáp ứng được phần nào bài đã nói trên.
Đến một làng ở xứ Nghệ trước đây, nhiều khi ta chỉ cần vào một nhà là có thể băng qua rào nhiều nhà khác. Có nơi, ta có thể đi khắp xóm làng. Nhiều nhà nương (vườn) không kín, cửa ngõ để mở, đi vắng suốt ngày mà không mất một cái gì. Điều đó tưởng là dễ, nhưng vô cùng khó khăn, nếu như không có một lối sống lành mạnh, một đạo lý tốt đẹp, có cội nguồn tiềm ẩn từ xa xưa. Lối sống ấy, đạo lý ấy là "Làng thương hơn nương kín". Chúng ta đều biết, "làng là tế bào sống của xã hội người Việt, là sản phẩm tự nhiên tiết ra từ quá trình định cư và cộng cư của người Việt trồng trọt. Con người cộng cư trong cộng đồng làng, trước hết  phải cộng cảm  để được bà con láng giềng, làng nước yêu thương giúp đỡ, hơn là sống ích kỷ, vườn tược rào chắn, chông gai tấp đầy, tường cao cổng kín, lúc nào cũng cửa khóa then cài, chỉ bo bo giữ của nhà mình không nghĩ đến ai, thờ ơ với mọi đau, khổ, bất hạnh, mất mát của người khác". Có lối sống đạo lý ấy là do bà con quan niệm rằng "yêu con người, mát con ta", "giữ của cho người tức là giữ của cho mình"; "xởi lởi trời cho, lo xo trời co lại...". Họ ghét lối sống  "của ai phận nấy", "ai có thân người ấy lo, ai có bò người ấy giữ", "đèn nhà ai, rạng nhà nấy", "ruộng nhà ai thì nấy đắp bờ", "cháy nhà hàng xóm, bình chân như vại".... Họ đề cao lối sống: "thương người như thể thương thân", "lá lành đùm lá rách", "một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ".... Họ coi "làm phúc như làm giàu", "làm phúc không cần được phúc", "khó giúp nhau mới thảo, trừ nợ không ơn"... Tục ngữ người Thái ở miền núi Nghệ An cũng có những câu: "Đống của thua đống người", nên khuyên nhau ăn ở phải có đạo đức, có nhân nghĩa: "Nước có nhiều sóng, người phải có chữ nhân" (Nậm lái phóng, lòng cồn chờ nừng), sống với nhau phải biết đùm bọc nhau: "ăn có đũa, ở có đàn" (ky mí thù, dụ mí pứng), đừng có tự kiêu tự phụ mà có lúc sẽ bị mọi người xa lánh: "đứng một mình cao, đứng cao một mình" (xủng bò đẻo, hẻo bò nừng) hoặc: "Giỏi một mình  không ai đoái, tài một mình không ai hay". Bởi vì đồng bào biết rằng : "Góp tay chung ngón" (Hăng là mứ, tứ là niu) tức là con người phải gắn bó với cộng đồng.
Những điều rút từ tục ngữ người Việt và người Thái ở Nghệ An cho ta thấy rằng: Trong một hoàn cảnh  thiên nhiên tai quái, vừa quan ức hiếp, nhà giàu bóc lột, những bất hạnh luôn rình rập, cái đói nghèo đe doạ thường xuyên, dạy cho họ đã cộng cư  phải cộng cảm mới cộng sinh được phải cộng cảm khi đã cộng cư. Điều đó không chỉ là tình cảm tự nhiên tự phát của con người mà bằng các tổ chức tương tế ái hữu. Cũng là các tổ chức tự phát thôi, ta thấy ở xứ Nghệ xưa kia có các phường như: phường lợp nhà, phường ghép sân, phường chăn trâu bò, phường sắm tưới, phường làm rẫy... Rồi các phường hộ sản, phường cưới dâu, phường ăn thịt tết... Phường thường tập hợp những người gần nhau, có tinh thần nhường nhịn, biết ăn ở với nhau... Cố nhiên không đòi hỏi những điều trên phải ngang giá. Hàng năm, phường dựa vào tình trạng thực tế của các phường viên rồi trên cơ sở dân chủ bình nghị, ai cần được giúp trước, ai cần giúp sau, từ nhà nọ sang nhà kia, có khi một lúc hai ba nhà. Đó là cách hạn chế sự bóc lột của địa chủ.
Đáng chú ý là phường làm rẫy. Phường làm rẫy hay còn gọi là phường trại chè là một cộng đồng lao động, cộng đồng sản xuất. Làm rẫy, làm trại chè cá thể, song có yêu cầu về lao động khá lớn, để kịp thời vụ một gia đình không thể làm xuể. Đến ngày làm rẫy cho nhà nào, người trong phường mang cuốc thuổng, choòg đến bãi rẫy ra sức đổ đất, đào gộc, xếp đã như thành luỹ để bảo đảm độ bằng phẳng và chống xói mòn rồi gánh đất bột đổ lên... Phải ba, bốn chục người cùng làm để gây khí thế. Trong những ngày lao động đó, chỉ cần cơm cà no bụng là được, không công xá gì bát nước chè xanh thì luôn sẵn sàng. Tôi đã nói từ cộng cư  đến cộng đồng sản xuất, mà đã cộng đồng sản xuất thì phải cộng đồng chống thiên tai, cộng đồng làm thuỷ lợi, rồi cộng đồng giữ gìn an ninh trật tự,  chống trộm cắp, bảo vệ cuộc sống yên lành của làng xã. Chưa hết, còn cộng đồng chăm lo việc học hành, từ giúp đỡ bút giấy  và động viên giúp đỡ những người đi học, trợ cấp khó khăn cho những ai nghèo khó mà có chí theo đuổi việc học thông qua học điền. Cộng động giúp đỡ những người già cả cô đơn không nơi nương tựa, đó là khoản lão điền; cộng đồng giúp đỡ các gia đình có người gánh việc nhà vương (đi lính) đó là khoản binh điền... Như vậy không chỉ cộng cảm về mặt tinh thần, tương trợ ái hữu một cách vô tư, cộng đồng làng còn có "cơ sở vật chất" trích trong khoản ruộng công của làng, của bản để thể hiện đạo lý của cộng đồng và mang sắc thái văn hoá của nó.
Rồi khi có giặc ngoại xâm, làng còn là một cộng đồng chiến đấu. Cứ xem Lê Lợi trước khi kéo nghĩa quân Lam Sơn vào Nghệ An, làng Trang Niên (Yên Thành) đã tổ chức cộng đồng chiến đấu dưới sự chỉ huy của Nguyễn Vĩnh Lộc; làng Tùng Châu (Đức Thọ) cũng đã tổ chức cộng đồng chống quân Minh dưới sự điều khiển của Trần Duy...
Nhưng chỉ có cộng cảm để cộng sinh rồi cộng đồng sản xuất, cộng đồng chiến đấu cũng chưa ổn. Còn phải có cộng lý nữa. Lý tức là thể chế, là pháp lý của làng  là những điều ước do dân làng đặt ra mà mọi người trong làng phải tuân thủ: Đó là cái mà ta gọi là hương ước của người kinh, luật tục của người Thái, người Mông... Chiếm phần quan trọng trong các hương ước và luật tục là những điều ước nói về trật tự trị an, bảo vệ sản xuất, bảo vệ di sản văn hoá, bảo vệ môi trường; là những điều ước bảo đảm các các mối quan hệ tốt trong các gia đình, trong dòng họ, trong toàn thể dân làng; là những điều ước về cổ vũ việc học, tôn trọng người già, coi sự tử như sự sinh; về cưu mang giúp đỡ lần nhau, về các tục lệ trong hương ẩm... Hương ước và luật tục không chỉ có ý nghĩa như một thứ luật pháp hay tập quán pháp lý mà còn như một hệ thống tiêu chuẩn đạo đức, vừa phản ánh nếp sống cộng đồng, tâm lý hào đồng của dân làng, dân bản vừa chứa đựng những giá trị văn hoá dân gian hình thành từ bao đời và liên tục được bổ sung.
Thế vẫn chưa đủ. Con người sống trong cộng đồng làng cần phải có niềm tin, niềm tin dựa vào nhau, niềm tin trao đổi, niềm tin vô thức, niềm tin lý tưởng, cả niềm tin vào những cái cảm thấy được nhưng chưa nhận ra dược, niềm tin vào những điều chưa biết... Đó là niềm tin đối với thần thánh mà cộng đồng làng gọi là thành hoàng (người Kinh), chẩu hua (người Thái),... thành hoàng và chẩu hua có thể là  nhân thần, nhiên  thần hay thiên thần. Thần nào được cộng đồng làng thờ đều phù hộ cho dân làng, cai quản  về mặt dương cho dân làng. Ở xứ Nghệ, việc thờ thần đã có từ lâu sau đó mới được nhà vua phong vương tước, với chức danh thành hoàng. Tín ngưỡng thành hoàng và chẩu hua biểu thị lòng kính, sợ, tin, cầu và cả biết ơn nữa của người nông dân đối với cái Thiêng. Đó là biểu tượng cộng mệnh của cả dân làng. Nên thành hoàng là chẩu hua đóng vai trò liên kết giữ những người trong một cộng đồng làng. Đó là nơi hội tụ tâm linh của cả dân làng. Còn đối với dân làng, thành hoàng và chẩu hua là biểu hiện của lịch sử, phong tục cùng đạo đức, pháp luật, hy vọng của cả làng, lại cũng là một thứ quyền uy siêu việt, một mối liên hệ vô hình, khiến cho cả làng cả bản cả mường thành một cộng đồng có tổ chức và hệ thống chặt chẽ. J.Coulet, một người Pháp nhận xét: "Sự thờ phụng thành hoàng tượng trưng cho làng xã và sự trường tồn của thôn dân". Đó vừa là cái nền vững chắc nhất của quan hệ cộng đồng làng xã, vừa là ý thức hướng về cội nguôi của dân làng, cội nguồn của đất nước. Chúng tôi gọi cộng mệnh là vì thế.
Như vậy là tôi đã  bước qua làng và bản mường là một cộng đồng sáng tạo và bảo lưu các giá trị văn hoá từ văn hoá hữu thể (đình đền, chùa, nhà thánh, nhà ở, lăng, mộ, tháp...) đến văn hoá  vô thể (tục ngữ, ca dao, dân ca, truyền kể, vè...) và văn hoá tâm linh. Làng, bản là một môi trường văn hoá,  là tấm gương phản chiếu nền văn hoá cổ truyền của dân tộc. Văn hoá dân tộc chỉ là sự mở rộng và nâng cao của văn hoá xóm làng, hay như có người nói, văn hoá Việt Nam cổ truyền về cơ bản là văn hoá xóm làng do những người định cư, cộng cư trên một mảnh đất rồi cộng cảm, cộng đồng sản xuất, cộng đồng chống thiên tai, cộng đồng làm thủy lợi, cộng cồng chiến đấu, rồi cộng lý, cộng mệnh để cộng sinh đã sáng tạo và lưu luyến. Ở Nghệ Tĩnh trước đây có tục uống nước chè chát. Đó là một tục đậm sắc thái văn hoá của cộng đồng làng xã ở xứ Nghệ. Trong tục đó có cộng cảm, cộng sinh... có cả trao đổi, bàn bạc cách làm ăn, cách sinh hoạt, cách chiến đấu, cách thờ phụng tổ tiên và thành hoàng, chẩu hua. Trong tục đó có cả giao văn hoá bàn giải, thưởng thức về văn hoá phổ biến và lưu truyền văn hoá. Đó là sắc thái văn hoá của những người nông dân định cư trong cộng đồng làng xã khép kín sống bằng nông nghiệp là chủ yếu từ bao đời nay. Do hoàn cảnh địa lý, lịch sử  của từng vùng có đôi nét khác nhau nên có sắc thái văn hoá đó không thể đè lên hoặc trùm lên bản sắc văn hoá của dân tộc mà chỉ làm phong phú thêm, đa dạng thêm bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam. "Làng nước" luôn cố kết hữu những câu ca dao vang dội thấm đượm trong lòng dân từ Bắc chí Nam quan bao đời:
"Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn".
"Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng".
Ca dao đề cao:
"Những người ích quốc lợi gia
Tiếng tăm lừng lẫy gần xa nức lòng".
"Những người truyền đạo khai nhân
Nghìn thu để tiếng muôn phần thơm lâu"
Những lúc đất nước có biến, họ biết đoàn kết thành một sức mạnh vô cùng vững chắc:
"Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao".
Bác Hồ của chúng ta, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới. Song Bác là người xứ Nghệ hơn người xứ Nghệ nào hết, người Việt Nam hơn người Việt Nam nào hết. Bác mang bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam  và cả sắc thái văn hoá xứ Nghệ trong tâm hồn Bác, trí tuệ của Bác. Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ vĩ đại về cả trong kiến quốc nữa, khẩu hiệu lớn nhất của Bác là:
"Đoàn kết, đoàn kết đại đoàn kết
Thành công thành công đại thành công".
Đó là khẩu hiệu chiến lược chính trị, cũng là chiến lược văn hoá. Khẩu hiệu đoàn kết này của Bác dựa trên cơ sở chủ nghĩa nhân đạo mà Bác đã tiếp thu, phát huy một cách vô cùng sáng tạo trên những yếu tố vô cùng tốt đẹp đã trở thành truyền thống trong cộng đồng làng xã mà chúng tôi đã nói trên. Người Việt Nam có thời gian "mất nước", nhưng chưa bao giờ "mất làng". Như thế vẫn chưa đủ, Bác còn dựa trên những phương châm nhân chính, tức là chính trị nhân nghĩa, coi dân như cha mẹ, phải biết trọng dân, giúp đỡ nhân dân, tôn cao ý dân, nhất là việc làm, những sáng kiến của nhân dân đã thực hiện được trong quá khứ và hiện tại mà ích quốc lợi gia, lợi làng bản. Những việc làm của dân trong hai cuộc kháng chiến như: Tổ áo ấm cho bộ đội, Hội mùa đông chiến sỹ, hội bà mẹ binh sĩ, rồi hiện tượng kết nghĩa giữa các huyện, các tỉnh giữa hai miền... đều dựa trên sự đoàn kết tương trợ trong cộng đồng làng xã mà phát huy lên. Nhưng lúc này đoàn kết trên phương châm chính là đoàn kết có nguyên tắc, không tự phát, không trong một vùng nhỏ hẹp mà có chính quyền tham gia, có Đảng lãnh đạo, có sợi chỉ đỏ thông suốt cả dân tộc.
Vẫn chưa đủ, Bác còn dựa trên nền tảng của triết học cổ kim, triết học phương Đông như "Quốc dĩ dân vi bản". "Tứ hải giai huynh đệ" của Khổng giáo; triết học "Đại từ đại bi, cứu khổ cứu nạn" của Phật giáo; rồi cả triết học của Thiên chúa giáo... nhưng nhiều nhất vẫn là triết học của chủ nghĩa Mác - Lênin. Chính vì vậy mà nhiều học giả nghiên cứu về Bác đều viết rằng: cụ Hồ Chí Minh là một nhà cách mạng xuất thân từ Khổng học, các bài viết của cụ đề ra đạo đức cách mạng, chẳng hạn như khẩu hiệu đoàn kết dân tộc đầy rẫy  những dấu ấn của Khổng học. Điều đó không có nghĩa là Cụ chỉ sùng bái tư tưởng vô sản mà Cụ còn biết kết hợp truyền thống dân tộc với đấu tranh cách mạng trong bản thân Cụ qua những câu tục ngữ, dân ca. "Chính vậy mà cụ đã tập hợp, đoàn kết được nhân dân, phát động hai cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm mà năm châu đều ngưỡng mộ" (Jen Chesnaut).
Đó là đoàn kết dựa trên các yếu tố văn hoá của toàn dân tộc và tinh hoa của thế giới. Giờ đây, đất nước ta đang trên đường đổi mới. Cơ chế thị trường đang diễn ra bao điều tốt đẹp nhưng cũng bao điều nhức nhối như nạn quan liêu, lãng phí, tham nhũng, buôn lậu, nạn nghiện hút, tiêm chích, mại dâm... Nếu chúng ta biết dựa và phát huy sức mạnh của truyền thống cộng đồng làng xã và đoàn kết dân tộc như Bác Hồ đã sử dụng và phát huy thì sẽ thành công.

Như vậy là từ địa bàn xứ Nghệ, tôi đã khái quát được lãnh thổ cả quốc gia. Đó là cách tôn vinh  bản sắc văn hoá dân tộc, văn hoá xứ Nghệ mà cũng là tôn vinh tư tưởng Hồ Chí Minh.

Ninh Viết Giao - Tạp chí Mặt trận

Arrow2 Cộng đồng làng xã và đoàn kết dân tộc