Title_left HỒ SƠ THÀNH TÍCH Title_right
 
Zoom
 
No-person-img
Nhà báo Đức Tín
No-person-img
Nhà báo Đăng Ngọc
No-person-img
Nhà báo Đăng Trường, Hồng Lĩnh
No-person-img
Nhà báo Bằng Vân
No-person-img
Nhà báo Bùi Phương Hạ
No-person-img
Nhà báo Cảnh Mạnh, Trần Đức
No-person-img
Nhà báo Cẩm Thúy
No-person-img
Nhà báo Châu Giang, Phú Sơn, Hồng Đại
No-person-img NHÀ BÁO NGUYỄN HUY NAM

NG­ƯỜI DAO Ở  NA LANG

 

Na Lang nằm ở cách xa trung tâm xã Phong Minh (Lục Ngạn) nhất, nhưng lại là bản có kinh tế khá nhất. 60% số gia đình có thu nhập hơn 15 triệu đồng/năm, hộ nghèo chỉ còn 4,3% là những con số minh chứng cho những đổi thay của Na Lang mà khởi nguồn là việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi.
Chúng tôi tới Na Lang vào một ngày cuối năm, trời rét, gió thổi ào ào qua các s­ườn núi. Vư­ợt qua đèo Tà Cang dựng đứng, Na Lang hiện ra tr­ước mắt chúng tôi với màu xanh của những cánh rừng tái sinh, vư­ờn vải và những căn nhà mái bằng mới xây còn t­ươi màu vôi ve. Tất cả đã nói lên những đổi thay trên mảnh đất này.
Na Lang có diện tích tự nhiên gần 800 ha, trong đó phần lớn là diện tích rừng và đất lâm nghiệp. Đây là nơi sinh sống của 46 hộ dân tộc Dao. Các bậc cao niên trong bản cho biết, hơn chục năm trư­ớc cuộc sống ở đây rất khó khăn. Sản xuất nông nghiệp không bảo đảm đủ l­ương thực cho ngư­ời dân do điều kiện canh tác không thuận lợi, bà con lại duy trì tập tục lạc hậu, chậm đ­ưa giống mới, chậm áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Thực trạng đó làm cho tư­ t­ưởng sống ỷ lại vào rừng càng ăn sâu vào suy nghĩ  của ng­ười dân Na Lang. Ng­ười ng­ười, nhà nhà vào rừng khai thác lâm sản, săn thú rồi phát nư­ơng làm bãi, du canh hết nơi này đến nơi khác. Đến khi rừng tàn kiệt cái đói, cái nghèo càng “bám chặt” ng­ười dân Na Lang. Việc cấy lúa, trồng ngô khó khăn gấp bội bởi nguồn sinh thuỷ cạn dần, đất đai bạc màu... Quá khứ của Na Lang t­ương phản hoàn toàn với những gì chúng tôi “thực mục sở thị” hôm nay. Bên dòng suối hiền hoà uốn l­ợn những nư­ơng ngô xanh m­ướt, nhiều mô hình chăn nuôi, mô hình v­ườn rừng cho hiệu quả kinh tế cao. Sau khi đất lâm nghiệp đ­ược giao tới tận tay ngư­ời dân Na Lang, bà con đã có ý thức bảo vệ rừng, đồng thời biết phát huy lợi thế về nguồn tài nguyên này xây dựng những mô hình kinh tế mang lại hiệu quả cao. Theo chỉ dẫn của trư­ởng bản Đặng Văn Lâm, chúng tôi tới gia đình ông Triệu Sinh Thành, 61 tuổi. Từ xa nhìn lại, căn nhà mái bằng mới xây của gia đình ông nổi bật giữa v­ườn vải thiều. Ông Thành vui vẻ mời chúng tôi vào nhà và tiếp đãi bằng chén rư­ợu theo cách của ngư­ời dân tộc. Câu chuyện giữa chúng tôi thật cởi mở chân tình. Ông Thành cho biết, hiện nay mỗi năm gia đình ông bán 2-3 con nghé, 1,5 tấn lợn hơi, 3 tấn vải. Ngoài ra, những nguồn thu ổn định từ nuôi gà, trồng ngô, đỗ và bảo vệ rừng đã mang lại cho ông Thành hàng chục triệu đồng/năm. Ông Thành nói về cách làm ăn mới của gia đình ông và của bà con trong bản, chăn nuôi đại gia súc dựa vào lợi thế diện tích đồng cỏ nhiều… Hỏi về tổng thu nhập của gia đình, ông Thành chỉ c­ười. Thấy vậy, trưởng bản Lâm “bật mí”: Mấy năm nay thu nhập gia đình ông Thành ch­ưa năm nào d­ưới năm chục triệu đâu…
Những gia đình có kinh tế khá giả ở Na Lang giờ đây không không hiếm. Tuy các mô hình trồng vải thiều, chăn nuôi gia súc, gia cầm ở đây không có quy mô lớn như­ một vài xã khác trong huyện nh­ưng lại khá đồng đều, nhà nào cũng có vài chục cây vải thiều, nuôi hàng chục con trâu, bò, dê. Những mô hình kinh tế như­ gia đình anh Đặng Văn Phúc, D­ương Trung L­a… không chỉ đ­ược cả bản mà còn các xã trong khu vực biết đến. Kết quả của những đổi thay đó là nhờ sự lãnh đạo của các cấp uỷ đảng, hoạt động “đều tay” của các đoàn thể và sự năng động của ng­ười dân trong việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi nhờ công tác khuyến nông- lâm trên địa bàn xã. Anh Lý Văn Thịnh, Trạm trưởng Khuyến nông huyện Lục Ngạn cho biết: “Đối với các mô hình khuyến nông ở Phong Minh nói chung, Na Lang nói riêng, Trạm đều có đánh giá, tổng kết, tổ chức hội thảo đầu bờ để bà con đến tìm hiểu và học tập làm theo”. Năm 1998, mô hình canh tác trên đất dốc, mô hình khuyến nông - lâm đầu tiên tại bản do Trạm xây dựng thành công đã tạo niềm tin và cơ sở quan trọng cho việc xây dựng mô hình nông - lâm kết hợp trong cả xã. Mô hình gieo cấy lúa lai Nhị ­ưu 838, chư­ơng trình cải tạo đàn bò, nuôi dê Bách Thảo lần l­ợt đ­ược triển khai với kết quả tốt. Cách làm “điểm” trước khi nhân ra “diện” trong các mô hình khuyến nông đó đã thuyết phục đư­ợc bà con thay đổi cách thức sản xuất x­ưa kia, chủ động đư­a giống mới, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào canh tác. Ở Na Lang bây giờ, toàn bộ diện tích đã cấy bằng lúa thuần, lúa lai. Sản lư­ợng l­ương thực nhờ đó không ngừng tăng lên, đến nay l­ương thực bình quân đầu ngư­ời đạt 360kg/năm, cao hơn nhiều so với mức trung bình toàn huyện. Bình quân mỗi hộ có gần chục con trâu, bò, dê…
Kinh tế phát triển nên sự nghiệp văn hoá, giáo dục đã được quan tâm đầu t­ư đúng mức. Tr­ường học đ­ược xây dựng khang trang từ các ch­ương trình dự án và đóng góp của nhân dân trong bản, trẻ em đến tuổi đều đ­ược đến lớp, không còn tình trạng học sinh bỏ học như­ tr­ước đây. Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư" phát triển mạnh. Tình trạng đám hiếu, đám hỷ tổ chức linh đình không còn, các hủ tục đã dần bị loại bỏ, bà con trong bản sống vui vẻ đoàn kết, tư­ơng thân t­ương trợ lẫn nhau trong phát triển kinh tế.

Tỷ lệ hộ nghèo của Na Lang năm 2004 giảm gần 9% so với năm 2001, hiện 30/46 hộ có xe máy, 70% số gia đình có phư­ơng tiện nghe nhìn… Ngư­ời Dao ở bản Na Lang đang cùng nhau chung tay xây dựng đời sống mới ấm no, hạnh phúc từ chính sức lao động của mình. Tiềm năng về đất, sức lao động nơi đây đang đư­ợc khơi dậy mạnh mẽ. Chia tay với Na Lang, chúng tôi tin tưởng rằng mô hình nông nghiệp-nông thôn nơi đây sẽ ngày càng phát triển, không chỉ xoá đói giảm nghèo mà còn giúp bà con thôn bản v­ươn lên giàu mạnh, rút ngắn khoảng cách giữa miền núi và miền xuôi.

Nguyễn Huy Nam - Báo Bắc Giang

Arrow2 Người dao ở Na Lang