Title_left HỒ SƠ THÀNH TÍCH Title_right
 
Zoom
 
No-person-img
Nhà báo Tân Linh
No-person-img
Nhà báo Thanh Xuân
No-person-img
Nhà báo Thảo Lư
No-person-img
Nhà báo Thiếu Gia
No-person-img
Nhà báo Thu Loan
No-person-img
Nhà báo Trần Bạch Đằng
No-person-img
Nhà Báo Trần Hậu
No-person-img
Nhà báo Trần Thanh Phương
No-person-img NHÀ BÁO DƯƠNG THUẤN

THỨC MỘT ĐÊM VỚI GIÀNG CHỨ SỚ 

 

Sương sớm chưa tan tôi đã lên đường đi Chiềng Xơ, xã rẻo cao xa nhất của huyện Điện Biên Đông. Quãng đường dài gần sáu mươi cây số đến Chiềng Xơ lắm dốc đèo, nhiều đá hộc, khúc khuỷu, gập ghềnh. Có đoạn xe phải lội qua suối, lùi mấy bận lấy đà mới leo được lên bờ. Hai người bạn đồng hành với tôi hôm nay là Bí thư huyện uỷ Bùi Từ Thiện và Chỉ huy trưởng quân sự huyện Nguyễn Đăng Lợi. Xe qua bản Khơ Mú, bản Lào, bản Xinh Mun, bản Kháng... bản nào tôi cũng dừng lại tìm hiểu cuộc sống của bà con và chụp ảnh để làm tư liệu. Bí thư Bùi Từ Thiện thì luôn kể về những nét đổi mới của huyện mình.
Điện Biên Đông được thành lập vào năm 1995 với bốn vạn tám dân và sáu dân tộc. Cả huyện có 185 bản anh đều đã tới thăm, anh nhớ tên họ của từng trưởng bản, nhớ từng công việc của mỗi bản đang làm. Hiện nay đã có 1.232 héc-ta lúa nước, so với trước đây hoàn toàn canh tác bằng nương rẫy thì đây quả là một sự thay đổi lớn lao. Do làm nương rẫy phá hết rừng, các nguồn nước cạn kiệt, cuộc sống vốn đã vất vả lại càng vất vả thêm. Bây giờ có ruộng nên phá rừng ít đi, nước nguồn lại chảy, núi lại xanh. Trước kia cả huyện số hộ đói nghèo gần như trăm phần trăm, giờ giảm một nửa. Xã nào cũng có có dăm bản biết làm ăn khá. Trong đó có Chiềng Xơ, một xã tận tít rẻo cao mà có 176 cái xe máy. Trâu, bò, lợn, gà thì nhà nào cũng vài chục, vài trăm con. Cuộc sống đã bớt khó khăn, các bản có trạm y tế, trẻ em hầu hết đều được đi học... Bí thư Bùi Từ Thiện càng kể càng say sưa, bỗng anh chua xót bật cười khi kể tới những bản từ 1954 cho tới tận bây giờ mới được lần đầu xem văn công. Cho nên vào dịp kỷ niệm 50 năm giải phóng Điện Biên này, huyện Điện Biên Đông phải phấn đấu có sáu mươi bản được xem truyền hình. Anh bảo bữa nay anh sẽ đưa tôi đến thăm một đảng viên mới người Mông ở bản Háng Tàu tên là Giàng Chứ Sớ, đến đó sẽ được xem chủ nhà múa khèn…
Đến Chiềng Xơ nhìn đồng hồ đã 12 giờ trưa, gửi ô tô ở uỷ ban xã lại tiếp tục đi  nhờ xe máy lên bản Háng Tàu. Đường đi lên Háng Tàu giống như đường lên trời cao vậy, cứ vi vút trên gió, trên mây, quanh co, uốn khúc. Có lúc phải chui qua các đám khói của đồng bào tranh thủ khi trời khô đốt rẫy tức ngực đến ngạt thở, nước mắt nước mũi ứa ra giàn giụa, cay xè. Đến chỗ dốc cao gần rặng cây rậm rạp, Bí thư Bùi Từ Thiện bảo dừng lại vì Giàng Chứ Sớ thường hay đi làm nương ở quãng núi này rồi anh bắc loa tay hú gọi một tiếng thật dài. Tiếng hú chạy đi vòng quanh núi khá lâu rồi mới nghe tiếng hú đáp lại. Độ dăm phút sau Giàng Chứ Sớ đã hơ hải chạy đến. Thấy có khách quý đến, Giàng Chứ Sớ liền hú gọi lại ra hiệu cho biết rồi đi vào khe cạn dắt ra một chiếc “Wave” màu xanh lục bảo tôi ngồi lên để chở về nhà. Nhìn con đường nhỏ ngoằn nghèo, bên dưới là vực sâu, tôi ái ngại bảo đi bộ  thích hơn. Giàng Chứ Sớ cứ nằng nặc “Đây đã đi quen rồi, không chết được đâu...” Nói xong liền vặn tay ga lao ầm ầm đi ngược lên đỉnh núi. Mấy lần xe bị trượt bánh tôi nhảy xuống đi bộ nhưng Giàng Chứ Sớ lại bảo:“Cứ nhắm mắt vào sẽ hết sợ mà...” Thực ra Giàng Chứ Sớ chưa nói thì tôi đã nhắm mắt trước rồi vì lá cây hai bên đường cứ liên tiếp quệt vào mắt. Tôi bảo đường khó thế này nên cưỡi ngựa để đi lại cho an toàn! Giàng Chứ Sớ bảo “Đúng rồi! Mùa khô ráo thì mới cưỡi xe, còn mùa mưa đến thì lại cưỡi ngựa...”    
Đêm hôm nay đúng rằm, ánh trăng tràn xuống đỉnh núi sáng vời vợi. Ngồi uống rượu ở trên đầu nguồn sông Mã tôi không khỏi chạnh nhớ đến câu thơ của Quang Dũng viết từ 1948, khi kháng chiến chống Pháp ông đi qua đây: “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi, Mường Lát hoa về trong đêm hơi... Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy, Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi...” Đến Chiềng Xơ tôi mới biết con sông Mã từng chở mộng hồn của thi sĩ Quang Dũng sao mà vòng vèo thế. Bắt nguồn từ Điện Biên Đông, vượt qua biên giới sang tỉnh Sầm Nưa của Lào mới lại vòng trở về Thanh Hoá rồi chảy ra biển Đông. Nhờ con sông này nên việc giao thương khá thuận tiện, nhiều chuyến bè xuôi sang Lào đã đem lại phần nào đỡ vất vả hơn cho cuộc sống vùng cao Tây Bắc. Lên đến Thẳm Chẩu và Háng Tàu, hai bản ở sát nhau và cao nhất xã Chiềng Xơ tôi càng thấy yêu hơn con sông Mã ở khúc thượng nguồn. Con sông chảy giữa núi ngàn đẹp như tranh không thể nào thiếu trong cuộc sống của mỗi người dân bản. Hỏi một số người ở bản đây có thứ gì nhiều nhất, ai cũng nói chỉ có nhiều thóc lúa. Nhà ít ruộng thu được vài tấn, nhà nhiều ruộng thu hơn chục tấn. Vụ mùa này các gia đình đều thu hoạch khá, đến nhà nào thóc cũng xếp đầy sàn. Ngoài nhiều thóc ra còn nhiều bò, nhiều lợn, nhiều gà, nhiều dê, nhiều ao nuôi cá... Cuộc sống của người Mông ở vùng rẻo cao Chiềng Xơ như vậy là quá ổn, chẳng còn phải lo bị đói ăn như trước kia. Chủ tịch xã Chiềng Xơ là Lường Văn Thiên dân tộc Xinh Mun ra Sông Mã câu được một con cá chiên nặng gần năm kí, đem về xắn thịt ra xiên nướng lên bếp than mùi thơm toả đi mấy cánh rừng. Bữa cơm tối nay ở nhà Giàng Chứ Sớ có cá chiên sông Mã, có thịt lợn lòi thật là ngon. Chưa bao giờ nhà Giàng Chứ Sớ lại có đông người và có nhiều dân tộc đến thế. Chủ tịch xã  bấm đốt tay thử đếm: Kinh này, Tày này, Thái này, Lào này, Khơ Mú này, Xinh Mun này... Chiều nay khi mới đến, tôi bảo tối nay sẽ cùng Giàng Chứ Sớ ra sông Mã câu cá chiên. Giàng Chứ Sớ rất vui nói là thích lắm. Nhưng bây giờ thì rượu đã ngà ngà và bốc lên đầu. Giàng Chứ Sớ mở to hai con mắt để nhìn tôi, nhìn Bí thư huyện, nhìn tất cả mọi người rồi rưng rưng  kể.
Trước kia Giàng Chứ Sớ không phải ở bản Thẳm Chẩu, cũng không phải ở bản Háng Tàu mà ở mãi bên huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Giàng Chứ Sớ được những tên trùm sỏ đạo Vàng Chứ phân công phụ trách một khu vực rất rộng có người Mông thuộc Sơn La và Lai Châu. Bọn chúng bảo ai đã đi làm đứng đầu cho đạo Vàng Chứ thì phải di chuyển nơi ở liên tục để che mắt chính quyền địa phương và để truyền đạo vì thế mà Giàng Chứ Sớ đã phiêu dạt đến đây. Mấy năm đi theo đạo Vàng Chứ, bị kẻ xấu xui bỏ nhà, bỏ nương, không làm được thóc nên cả nhà bị đói không có gì ăn. Suốt đời Giàng Chứ Sớ sẽ không bao giờ quên những ngày đó. Cả hai vợ chồng Giàng Chứ Sớ còn đau buồn bao năm nữa cũng chưa thể hết, bị mất ba đứa con liền vì ốm không có thuốc. Giàng Chứ Sớ thương nhất đứa con gái đầu, nó mới cưới chồng sắp sinh con. Trước lúc chết nó cứ gọi bố mãi, còn bố nó thì bất lực chỉ biết ôm mặt ngồi khóc. Đang lúc lạc vào trong hang tối thì lại có người mang đuốc đến rọi sáng, bảo với Giàng Chứ Sớ hãy quay trở về đi. Đó chính là lúc Bí thư Bùi Từ Thiện tìm đến với Giàng Chứ Sớ và bảo không đi theo đạo Vàng Chứ nữa. Từ đấy đến giờ Giàng Chứ Sớ  chỉ ở nhà với vợ con. Bí thư còn bảo Giàng Chứ Sớ lập bản mới, huyện sẽ cho tiền để khai hoang, đào núi xuống làm ruộng bậc thang, ngăn khe cạn giữ nước để tưới lúa và làm ao thả cá. Giàng Chứ Sớ bảo vợ con và mọi người trong bản cùng đi làm, nên cuộc sống khá dần lên từ đó. Đầu năm nay đã dựng được cái nhà sàn to nhất bản, sắm được xe máy để đi nương, đi họp xã... Bây giờ thì không còn ai nghĩ Giàng Chứ Sớ là kẻ đi theo đạo Vàng Chứ như trước kia nữa. Giàng Chứ Sớ đã khác trước rồi, đã được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam và làm Phó chủ tịch Mặt trận xã Chiềng Xơ. Công việc Đảng giao cho Giàng Chứ Sớ là đi tuyên truyền tất cả người Mông ở mọi nơi không được đi theo đạo Vàng Chứ, không nghe kẻ xấu chia rẽ các dân tộc anh em, phải đoàn kết làm ăn để xây dựng cuộc sống bản mường.
Đã quá nửa đêm tiếng ngựa gõ móng xuống sàn tàu kêu lộp cộp, con gà trống đậu trên cành dổi sau nhà vỗ cánh phành phạch rồi gáy ó o. Tôi giục cả nhà đi ngủ nhưng Giàng Chứ Sớ cứ kể rì rầm đến tận khuya câu chuyện về cuộc đời mình. Sáng sớm hôm sau xuống núi, vợ chồng Giàng Chứ Sớ gói thịt lợn rang, nắm xôi, rót bầu rượu đầy, bảo tôi  mang theo để ăn đường, kẻo đi xa bị đói. Còn Giàng Chứ Sớ lại nắm tay ga, bảo tôi và Bí thư huyện uỷ ngồi lên sau xe và nhắm mắt vào để đưa xuống núi. Đến lúc này tôi mới được đứng ngắm Giàng Chứ Sớ, bỗng nhiên tôi tự hỏi mình, sao khi đi xe máy thì Giàng Chứ Sớ táo bạo là thế, còn khi ở nhà ngồi bên cạnh vợ thì hiền như một con mèo. Tôi sẽ nhớ mãi buổi tối qua đang lúc uống rượu vui, Giàng Chứ Sớ đã đi một bài khèn vừa thổi vừa múa rất là tuyệt. Ai cũng bảo ngày xưa khi còn trẻ Giàng Chứ Sớ thổi khèn tài lắm nên con gái rất mê và người mê nhất đã về theo làm vợ. Tôi nói đùa, thổi khèn hay thế bây giờ cũng vẫn còn nhiều người muốn mê đấy... Giàng Chứ Sớ cười to và bảo: “Bây giờ già rồi, không con gái nào theo nữa...”. Mọi người cùng cười, tiếng cười giòn tan vọng vào vách núi. Còn gì vui và ấm áp hơn tiếng cười của mùa xuân.
Cùng Bí thư huyện uỷ Bùi Từ Thiện xuống núi, tôi nghe được trái tim anh đang nói điều gì. Điện Biên Đông đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang thời kỳ chống Pháp. Ngoảnh lại nhìn lên phiá núi trên kia, những cành ban đã nở trắng đầy hoa.

Dương Thuấn - Báo Nhân dân

Arrow2 Thức một đêm với Giàng Chứ Sớ