|
TRIỆU PHÚ LÀNG DỆT PHỤC CHẾ LẠI MẪU SA CỔ 250 NĂM
Lụa vân Vạn Phúc nổi tiếng cất cánh từ ca dao tôi nghe trong lời ru ngọt ngào của mẹ thuở bé thơ: The La, lĩnh Bưởi, chổi Phùng Lụa vân Vạn Phúc, nhiễu vùng Mỗ bên. Những năm chiến tranh chống Mỹ có một bài hát về quê hương của cô gái
suối Hai, chàng trai Cầu Giẽ làm xúc động lòng người với những lời mượt
mà đằm thắm: “Giữ lấy trời xanh biếc như tấm lụa thanh niên, Hà Tây…”,
tiếp thêm sức cho chúng tôi trên những chặng đường chiến đấu. Vẫn là tấm lụa Vạn Phúc Vạn Phúc là một làng Việt cổ có lịch sử lâu đời. Theo tài liệu còn
lưu giữ ở đình làng thì từ thời Bắc thuộc, khi Cao Biền làm Tiết độ sứ
có công xây thành Đại La (năm 866) cùng ngưòi vợ là Lã Thị Nga đi chơi.
Thấy phong cảnh Vạn Phúc hữu tình, dân cư đông đúc, bà xin được ở lại
đây rồi đem nghề dệt lụa dậy cho dân làng. Bà được phong là Thần Hoàng
làng, dân gian thường gọi với cái tên dân dã “bà Lã”. Vạn Phúc còn là
cơ sở cách mạng của Đảng những năm trước Cách mạng tháng Tám. Công cuộc
đổi mới đất nước hơn mười năm qua như có phép tiên, làng lụa trỗi dậy
như tằm ăn rỗi. Làng Vạn Phúc bây giờ thì ít ai dùng loại khung cổ
nữa. Người ta mua những máy dệt cũ ở các nhà máy dệt thanh lý về sửa
chữa lại để dùng. Nhà nào cũng có từ 1 đến 5 máy dệt, nhiều nhà khá giả
có từ 20 đến 25 máy. Nếu không có làng nghề thì đống máy cũ ở các nhà
máy dệt thành đống sắt vụn. Thế mới thấy tài xoay sở của những người
dân làng nghề. Chỉ cần cải tiến một số bộ phận là có thể biến máy dệt
vải bỏ đi thành máy dệt lụa dùng được vài chục năm nữa. Cả xã bây giờ
là một nhà máy lớn, cung cấp đủ các loại cho thị trường trong và ngoài
nước, có hơn 5.000 khẩu thì hơn 70% làm nghề dệt lụa. Năm sản xuất cao
nhất cung cấp cho thị trường 2,4 triệu mét lụa các loại, không những
được bán rộng rãi ở các thành phố lớn trong nước mà còn theo du khách
đến với các quốc gia trên thế giới. Hai bên đường vào làng bây giờ là
những cửa hàng bán lụa, khách trong và ngoài nước về đây đông vui. Người lính năm xưa, nay là tỷ phú Tôi cố hình dung người đàn ông đã ngoài 60 tuổi, vóc người to cao,
đầu hói gần như hết tóc có dáng đi lòng khòng, hay cười, hơn 30 năm
trước là người lính đồng đội tôi ngày ấy. Thời nào cũng vậy, khi đất
nước có ngoại xâm thì mỗi người dân thành một chiến sĩ. Dẫu là con trai
độc nhất của một gia đình, năm 1968, sau tổng tiến công Mậu Thân đang
làm Phó cửa hàng trưởng Cửa hàng kim khí Văn Điển, ông xung phong nhập
ngũ. Rồi những năm tháng liên miên hết chiến trường Trị Thiên đến chiến
trường Khu V ông vẫn luôn nhớ về một vùng quê lụa. Ông tâm sự thân
tình, cởi mở khi biết tôi đã từng là một người lính: “Hồi ấy cứ theo
chiếc gậy Trường Sơn là chúng tôi đi, nhưng có một điều rất lạ là sau
những trận đánh, tôi luôn nhớ về quê nhà, nhớ nhất là công việc canh
cửi từ những năm thơ bé giúp đỡ gia đình, càng thấy yêu hơn cái nghề
dệt lụa thơ mộng, thanh bình. Tự nhủ nếu chiến tranh kết thúc trở về
tôi nhất định làm nghề dệt lụa – cái nghề có ở quê từ bao đời nay”. Ông
cười vui trông như gương mặt con trẻ: “Quên làm sao được cái nghề mà
mình đã làm từ năm 7 tuổi, trong bom đạn nghĩ về làng quê, tự nhiên
tiếng bom đạn lùi xa”. Nhâm nhi vài hạt bí với một ấm trà, rỉ rả
giúp tôi hiểu về họ hàng nhà lụa: có tới hàng trăm loại dệt bằng tơ
tằm: lụa, là, gấm, vóc, the, lĩnh, sa. Lụa có lụa trơn,lụa hoa; lụa
mỏng có hoa nổi, hoa chìm gọi là vân. Vạn Phúc xưa nổi tiếng về dệt lụa
vân. Gấm là mặt hàng quý mà cũng khó làm nhất. Người ta coi gấm là
“chúa” của các loại tơ lụa. Phải là những người có tay nghề cao, kỹ
thuật siêu hạng và óc thẩm mỹ tuyệt vời mới đảm nhiệm được. The, sa
băng… cũng là họ nhà lụa nhưng đều dệt thủng, nghĩa là trên mặt tấm
the, sa, băng có những lỗ thủng nhỏ rất đẹp. Phải có kỹ thuật sắp xếp
sợi dọc, sợi ngang để khi dệt tạo nên những lỗ khác nhau. Rồi còn sa
tanh, đoạn, vóc dệt dày hơn lụa. Nếu lụa chỉ cần 3.000 sợi dọc mỗi tấm
thì lĩnh, đoạn, sa tanh, vóc mỗi tấm phải có 8.000 sợi dọc. Cái đẹp
của lụa phải phụ thuộc vào trình độ thẩm mỹ của nghệ nhân, phải không
ngừng cải tiến kỹ thuật để các mẫu hàng vừa mắt khách. Phong cách tạo
hình trên chất liệu mỏng chính là nghệ thuật trang trí và bố trí hoa
văn trên lụa. Kho tàng nghệ thuật truyền thống là nguồn đề tài vô tận
của nghệ nhân, nhưng không thể dừng lại ở sự sao chép cái cũ mà là phải
vừa kế thừa, vừa sáng tác không ngừng. Những hoa văn dệt truyền thống
cân xứng, phóng khoáng, sáng tạo.
Kỹ thuật dệt lụa cũng thần tình
lắm đấy. Phải qua nhiều bước: chuẩn bị tơ, hồ sợi sau đó mới dệt,
nhuộm. Khâu nào cũng kỳ công theo những công đoạn nghiêm ngặt. Chỉ nói
riêng khâu hồ sợi cũng là bao nhiêu kỹ thuật. Phải biết pha thêm sáp
ong vào hồ làm cho sợi vừa dẻo vừa bóng là cả một bí quyết. Đúng là tôi
không hình dung hết công việc của những người thợ thủ công. Nghe ông
nói tôi càng hiểu thêm giá trị của từng mét lụa, quý những người thợ âm
thầm làm đẹp cho cuộc đời. Cơ sở sản xuất của gia đình ông Mão có 10
máy, giá mỗi chiếc từ 20 đến 25 triệu đồng. Tính sơ sơ, mỗi máy thường
xuyên phải có 5 –6 tạ tơ mỗi tạ tơ giá 23 – 25 triệu đồng. Vốn liếng
của ông bây giờ cũng tính đến tiền tỷ nhưng nhìn cung cách ăn mặc lam
làm thì không ai biết ông là tỷ phú. Ngày thường vẫn chiếc quần kaki
cũ, chiếc áo đông xuân ba lỗ không còn mới, chân đất. Tất bật lo mẫu,
lo may, lo dệt lên những sản phẩm mới lạ. Bàn tay vàng giữa làng nghề Chiến tranh kết thúc lành lặn trở về, tình yêu nghề cũ của cha ông
thức dậy. Ông đi khắp làng tìm lại những khung dệt nhiều năm bỏ xó.
Không phải không có người chê ông gàn dở bảo: “Ai cho dệt tư nhân, đã
có hợp tác xã, nhà máy, làm ra thì bán cho ai?”. Nhưng những người cao
tuổi thì cảm động trước tấm lòng thành của ông, họ giúp ông tìm lại
những mẫu lụa cũ. Mẫu “song hạc” của cụ Toán, mẫu “thọ đỉnh” của cụ Xã
Cao, mẫu “tứ quý” của cụ Túc. Ai cho ông cũng quý, cũng trân trọng. Ông
cảm động đến ứa nước mắt khi nhận từ tay cụ phó Dần mẫu rồng hút nước
và rồng ấp trứng độc nhất vô nhị. Thành công đầu tiên của Trịnh Văn
Mão là khôi phục lại chiếc khung dệt lụa cổ của làng Vạn Phúc. Theo đề
nghị của chính quyền địa phương, ông đồng ý đem khung dệt cổ tham gia
trình diễn tại Hội Chợ triển lãm của Bộ nông nghiệp và phát triển nông
thôn năm 1988. Theo gợi ý của Bảo tàng Dân tộc học muốn được lưu giữ
chiếc khung dệt lụa cổ cho khách tham quan, ông đồng ý ngay. Lục lọi
một chặp trong chiếc tủ phía sau chỗ ngồi rồi đưa cho tôi xem một mẫu
hàng sa cổ, ông giải thích: “Đây là mẫu sa còn lại trong một ngôi mộ cổ
ở phố Hiến Hưng Yên cách đây khoảng 250 năm. Tôi đã nghiên cứu và sản
xuất được loại này, dùng may áo cho vị chủ tế là Nghệ sĩ nhân dân Tiến
Thọ để làm lễ tổ Hùng Vương năm 2000. Năm 1998 chúng tôi cũng đã
thành công trong việc phục chế sa dùng che cửa sổ nhà khách Bác Hồ.
Phải kỳ công phân tích mẫu sa gốc rồi đếm từng sợi tơ dọc, khi se sợi
phải se đúng sợi mẫu sau đó mới đem nhuộm, dệt thử. Thành công rồi mới
sản xuất nhanh 80 mét bàn giao theo đúng kế hoạch, góp phần gìn giữ
nguyên vẹn những kỷ vật thiêng liêng của Bác Hồ kính yêu”. Ông không
chịu bó tay trước bất kỳ một yêu cầu nào của khách hàng. Vừa qua, Viện
khảo cổ đề nghị ông nghiên cứu để dệt loại vải từ sợi cây gai. Đây là
một nghề truyền thống của đồng bào dân tộc đã bị lãng quên. Thành công
của ông trong việc khôi phục nghề dệt vải bằng sợi cây gai làm sống lại
một vùng nghề. Theo đơn đặt hàng của quân đội, ông cũng đã nghiên cứu
thành công bước đầu sản xuất được loại vải đặc biệt có khả năng chống
đạn loại nhỏ dùng cho việc sản xuất áo giáp phục vụ chiến đấu. “Áo gấm” bây giờ có “đi đêm” Ông cũng đã từng nghe kể lại, chuyện cụ Ái ngày xưa dệt áo gấm dâng
vua. Hồi đó Tổng đốc Hà Đông vào Huế mượn một chiếc áo của vua Khải
Định về làm mẫu. Cụ Ái là người có trình độ tay nghề cao nhất làng được
giao nhiệm vụ. Áo cổ cao được trang trí bằng hai con rồng chầu mặt
nguyệt giữa cổ áo đằng trước. Hai tay áo thụng rộng có hình hai con
phượng bay. Thân áo có hình hai con rồng to lượn từ sau lưng vắt qua
hai vai về ngực. Trước và sau áo thêu những con sóng. Vì hoa văn to mà
khổ gấm nhỏ nên gấm phải dệt thành bốn khổ. Phải thuê thợ may giỏi cắt
áo để sao cho khớp với các hoa văn với nhau. Khi dệt phải dùng bốn thoi
có suốt bốn màu chỉ xanh, đỏ, tím, vàng. Nền áo là mầu vàng đặc trưng
của vua chúa. Nghe đâu ông phải dệt đủ mười hai áo, may xong chỉ chọn
lấy một cái đẹp nhất dâng vua. Ông đưa cho tôi xem tấm ảnh Tổng
thống Bin Clintơn trong chuyến thăm Việt Nam đang xem triển lãm tại Văn
Miếu, nghe giới thiệu về triều phục của vua nhà Nguyễn. Ông giải thích:
“Đây là bốn bộ triều phục nhà Nguyễn, tôi và ông Trịnh Bách – Việt kiều
từ Mỹ về khôi phục lại”. Người Việt kiều không biết mê những bộ triều
phục nhà Nguyễn từ bao giờ mà quyết tâm trở về nước tìm người khôi phục
lại. Ông Bách bỏ cả việc giảng dạy, bán tài sản về Việt Nam hàng năm
trời, tìm đến Vạn Phúc gặp ông Mão. Ông tâm đắc lắm, bắt tay vào công
việc, quyết tâm làm được bằng người xưa. Để có được những tấm lụa làm
nền cho những bộ triều phục ấy, ông đã bỏ biết bao công sức, tiền của
suốt 6 năm trời (1994 - 2000). Chỉ nói riêng khâu dệt, bình thường một
máy dệt mỗi ngày từ 8 – 10 mét thế mà 8 – 10 mét lụa nền cho những bộ
triều phục phải dệt trong một năm trời. Ông đã góp phần quan trọng giúp
ông Trịnh Bách khôi phục bốn bộ triều phục được dư luận đánh giá cao
trong dịp Festival ở Huế. Ông Trịnh Bách vô cùng cảm phục nói với một
nhà báo rằng: “Khó có một nghệ nhân thứ hai như ông Mão?”. Hôm tôi
gặp Nguyễn Hữu Chỉnh, Chủ tịch Hội nghề xã Vạn Phúc, ông cho biết: “Cái
khó hiện nay là tìm đầu ra cho sản phẩm lụa. Mặc dù sản xuất nói chung
giảm sút nhưng một số nghệ nhân giỏi như ông Mão thì sản phẩm vẫn tiêu
thụ tốt, họ có khách quen từ Hà Nội,Tp.Hồ Chí Minh và cả khách nước
ngoài đặt hàng thường xuyên”. Ông cũng vừa mua thêm hai máy nữa, mấy
hôm nay đang lúi húi lắp đặt. Tâm huyết với nghề không chỉ giúp ông
trong việc mưu sinh mà còn góp phần đem lại những giá trị nhân văn cho
sản phẩm lụa Việt Nam, cầu nối giao lưu văn hoá với các dân tộc khác
trên thế giới. Cơ sở sản xuất của ông Trịnh Văn Mão làng lụa Vạn Phúc
là địa chỉ tin cậy của du khách trong và ngoài nước.
Ngọc Phúc - Doanh nhân Việt Nam xưa & nay |