Title_left HỒ SƠ THÀNH TÍCH Title_right
 
Zoom
 
Nguyen-ngoc-hai
Doanh nhân Nguyễn Ngọc Hải
Nguyen-quoc-su
Doanh nhân Nguyễn Quốc Sự
Nguyen-quoc-tuan
Doanh nhân Nguyễn Quốc Tuấn
Nguyen-thi-dieuTu
Doanh nhân Nguyễn Thị Diệu Tú
Phan-huy-doanh
Doanh nhân Phan Huy Doanh
Bang-ngan
Doanh nhân Phạm Bang Ngạn
Tran-nghia-vinh
Doanh nhân Trần Nghĩa Vinh
Vinh
Doanh nhân - Nghệ nhân Phạm Hồng Vinh
Trinh-van-mao DOANH NHÂN TRỊNH VĂN MÃO

TRIỆU PHÚ LÀNG DỆT PHỤC CHẾ LẠI MẪU SA CỔ 250 NĂM

Lụa vân Vạn Phúc nổi tiếng cất cánh từ ca dao tôi nghe trong lời ru ngọt ngào của mẹ thuở bé thơ:
The La, lĩnh Bưởi, chổi Phùng
Lụa vân Vạn Phúc, nhiễu vùng Mỗ bên.
Những năm chiến tranh chống Mỹ có một bài hát về quê hương của cô gái suối Hai, chàng trai Cầu Giẽ làm xúc động lòng người với những lời mượt mà đằm thắm: “Giữ lấy trời xanh biếc như tấm lụa thanh niên, Hà Tây…”, tiếp thêm sức cho chúng tôi trên những chặng đường chiến đấu.
Vẫn là tấm lụa Vạn Phúc

Vạn Phúc là một làng Việt cổ có lịch sử lâu đời. Theo tài liệu còn lưu giữ ở đình làng thì từ thời Bắc thuộc, khi Cao Biền làm Tiết độ sứ có công xây thành Đại La (năm 866) cùng ngưòi vợ là Lã Thị Nga đi chơi. Thấy phong cảnh Vạn Phúc hữu tình, dân cư đông đúc, bà xin được ở lại đây rồi đem nghề dệt lụa dậy cho dân làng. Bà được phong là Thần Hoàng làng, dân gian thường gọi với cái tên dân dã “bà Lã”. Vạn Phúc còn là cơ sở cách mạng của Đảng những năm trước Cách mạng tháng Tám. Công cuộc đổi mới đất nước hơn mười năm qua như có phép tiên, làng lụa trỗi dậy như tằm ăn rỗi.
Làng Vạn Phúc bây giờ thì ít ai dùng loại khung cổ nữa. Người ta mua những máy dệt cũ ở các nhà máy dệt thanh lý về sửa chữa lại để dùng. Nhà nào cũng có từ 1 đến 5 máy dệt, nhiều nhà khá giả có từ 20 đến 25 máy. Nếu không có làng nghề thì đống máy cũ ở các nhà máy dệt thành đống sắt vụn. Thế mới thấy tài xoay sở của những người dân làng nghề. Chỉ cần cải tiến một số bộ phận là có thể biến máy dệt vải bỏ đi thành máy dệt lụa dùng được vài chục năm nữa. Cả xã bây giờ là một nhà máy lớn, cung cấp đủ các loại cho thị trường trong và ngoài nước, có hơn 5.000 khẩu thì hơn 70% làm nghề dệt lụa. Năm sản xuất cao nhất cung cấp cho thị trường 2,4 triệu mét lụa các loại, không những được bán rộng rãi ở các thành phố lớn trong nước mà còn theo du khách đến với các quốc gia trên thế giới. Hai bên đường vào làng bây giờ là những cửa hàng bán lụa, khách trong và ngoài nước về đây đông vui.
Người lính năm xưa, nay là tỷ phú

Tôi cố hình dung người đàn ông đã ngoài 60 tuổi, vóc người to cao, đầu hói gần như hết tóc có dáng đi lòng khòng, hay cười, hơn 30 năm trước là người lính đồng đội tôi ngày ấy. Thời nào cũng vậy, khi đất nước có ngoại xâm thì mỗi người dân thành một chiến sĩ. Dẫu là con trai độc nhất của một gia đình, năm 1968, sau tổng tiến công Mậu Thân đang làm Phó cửa hàng trưởng Cửa hàng kim khí Văn Điển, ông xung phong nhập ngũ. Rồi những năm tháng liên miên hết chiến trường Trị Thiên đến chiến trường Khu V ông vẫn luôn nhớ về một vùng quê lụa.
Ông tâm sự thân tình, cởi mở khi biết tôi đã từng là một người lính: “Hồi ấy cứ theo chiếc gậy Trường Sơn là chúng tôi đi, nhưng có một điều rất lạ là sau những trận đánh, tôi luôn nhớ về quê nhà, nhớ nhất là công việc canh cửi từ những năm thơ bé giúp đỡ gia đình, càng thấy yêu hơn cái nghề dệt lụa thơ mộng, thanh bình. Tự nhủ nếu chiến tranh kết thúc trở về tôi nhất định làm nghề dệt lụa – cái nghề có ở quê từ bao đời nay”. Ông cười vui trông như gương mặt con trẻ: “Quên làm sao được cái nghề mà mình đã làm từ năm 7 tuổi, trong bom đạn nghĩ về làng quê, tự nhiên tiếng bom đạn lùi xa”.
Nhâm nhi vài hạt bí với một ấm trà, rỉ rả giúp tôi hiểu về họ hàng nhà lụa: có tới hàng trăm loại dệt bằng tơ tằm: lụa, là, gấm, vóc, the, lĩnh, sa. Lụa có lụa trơn,lụa hoa; lụa mỏng có hoa nổi, hoa chìm gọi là vân. Vạn Phúc xưa nổi tiếng về dệt lụa vân. Gấm là mặt hàng quý mà cũng khó làm nhất. Người ta coi gấm là “chúa” của các loại tơ lụa. Phải là những người có tay nghề cao, kỹ thuật siêu hạng và óc thẩm mỹ tuyệt vời mới đảm nhiệm được. The, sa băng… cũng là họ nhà lụa nhưng đều dệt thủng, nghĩa là trên mặt tấm the, sa, băng có những lỗ thủng nhỏ rất đẹp. Phải có kỹ thuật sắp xếp sợi dọc, sợi ngang để khi dệt tạo nên những lỗ khác nhau. Rồi còn sa tanh, đoạn, vóc dệt dày hơn lụa. Nếu lụa chỉ cần 3.000 sợi dọc mỗi tấm thì lĩnh, đoạn, sa tanh, vóc mỗi tấm phải có 8.000 sợi dọc.
Cái đẹp của lụa phải phụ thuộc vào trình độ thẩm mỹ của nghệ nhân, phải không ngừng cải tiến kỹ thuật để các mẫu hàng vừa mắt khách. Phong cách tạo hình trên chất liệu mỏng chính là nghệ thuật trang trí và bố trí hoa văn trên lụa. Kho tàng nghệ thuật truyền thống là nguồn đề tài vô tận của nghệ nhân, nhưng không thể dừng lại ở sự sao chép cái cũ mà là phải vừa kế thừa, vừa sáng tác không ngừng. Những hoa văn dệt truyền thống cân xứng, phóng khoáng, sáng tạo.

Kỹ thuật dệt lụa cũng thần tình lắm đấy. Phải qua nhiều bước: chuẩn bị tơ, hồ sợi sau đó mới dệt, nhuộm. Khâu nào cũng kỳ công theo những công đoạn nghiêm ngặt. Chỉ nói riêng khâu hồ sợi cũng là bao nhiêu kỹ thuật. Phải biết pha thêm sáp ong vào hồ làm cho sợi vừa dẻo vừa bóng là cả một bí quyết. Đúng là tôi không hình dung hết công việc của những người thợ thủ công. Nghe ông nói tôi càng hiểu thêm giá trị của từng mét lụa, quý những người thợ âm thầm làm đẹp cho cuộc đời. Cơ sở sản xuất của gia đình ông Mão có 10 máy, giá mỗi chiếc từ 20 đến 25 triệu đồng. Tính sơ sơ, mỗi máy thường xuyên phải có 5 –6 tạ tơ mỗi tạ tơ giá 23 – 25 triệu đồng. Vốn liếng của ông bây giờ cũng tính đến tiền tỷ nhưng nhìn cung cách ăn mặc lam làm thì không ai biết ông là tỷ phú. Ngày thường vẫn chiếc quần kaki cũ, chiếc áo đông xuân ba lỗ không còn mới, chân đất. Tất bật lo mẫu, lo may, lo dệt lên những sản phẩm mới lạ.
Bàn tay vàng giữa làng nghề

Chiến tranh kết thúc lành lặn trở về, tình yêu nghề cũ của cha ông thức dậy. Ông đi khắp làng tìm lại những khung dệt nhiều năm bỏ xó. Không phải không có người chê ông gàn dở bảo: “Ai cho dệt tư nhân, đã có hợp tác xã, nhà máy, làm ra thì bán cho ai?”. Nhưng những người cao tuổi thì cảm động trước tấm lòng thành của ông, họ giúp ông tìm lại những mẫu lụa cũ. Mẫu “song hạc” của cụ Toán, mẫu “thọ đỉnh” của cụ Xã Cao, mẫu “tứ quý” của cụ Túc. Ai cho ông cũng quý, cũng trân trọng. Ông cảm động đến ứa nước mắt khi nhận từ tay cụ phó Dần mẫu rồng hút nước và rồng ấp trứng độc nhất vô nhị.
Thành công đầu tiên của Trịnh Văn Mão là khôi phục lại chiếc khung dệt lụa cổ của làng Vạn Phúc. Theo đề nghị của chính quyền địa phương, ông đồng ý đem khung dệt cổ tham gia trình diễn tại Hội Chợ triển lãm của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn năm 1988. Theo gợi ý của Bảo tàng Dân tộc học muốn được lưu giữ chiếc khung dệt lụa cổ cho khách tham quan, ông đồng ý ngay. Lục lọi một chặp trong chiếc tủ phía sau chỗ ngồi rồi đưa cho tôi xem một mẫu hàng sa cổ, ông giải thích: “Đây là mẫu sa còn lại trong một ngôi mộ cổ ở phố Hiến Hưng Yên cách đây khoảng 250 năm. Tôi đã nghiên cứu và sản xuất được loại này, dùng may áo cho vị chủ tế là Nghệ sĩ nhân dân Tiến Thọ để làm lễ tổ Hùng Vương năm 2000.
Năm 1998 chúng tôi cũng đã thành công trong việc phục chế sa dùng che cửa sổ nhà khách Bác Hồ. Phải kỳ công phân tích mẫu sa gốc rồi đếm từng sợi tơ dọc, khi se sợi phải se đúng sợi mẫu sau đó mới đem nhuộm, dệt thử. Thành công rồi mới sản xuất nhanh 80 mét bàn giao theo đúng kế hoạch, góp phần gìn giữ nguyên vẹn những kỷ vật thiêng liêng của Bác Hồ kính yêu”. Ông không chịu bó tay trước bất kỳ một yêu cầu nào của khách hàng. Vừa qua, Viện khảo cổ đề nghị ông nghiên cứu để dệt loại vải từ sợi cây gai. Đây là một nghề truyền thống của đồng bào dân tộc đã bị lãng quên. Thành công của ông trong việc khôi phục nghề dệt vải bằng sợi cây gai làm sống lại một vùng nghề. Theo đơn đặt hàng của quân đội, ông cũng đã nghiên cứu thành công bước đầu sản xuất được loại vải đặc biệt có khả năng chống đạn loại nhỏ dùng cho việc sản xuất áo giáp phục vụ chiến đấu.
“Áo gấm” bây giờ có “đi đêm”
Ông cũng đã từng nghe kể lại, chuyện cụ Ái ngày xưa dệt áo gấm dâng vua. Hồi đó Tổng đốc Hà Đông vào Huế mượn một chiếc áo của vua Khải Định về làm mẫu. Cụ Ái là người có trình độ tay nghề cao nhất làng được giao nhiệm vụ. Áo cổ cao được trang trí bằng hai con rồng chầu mặt nguyệt giữa cổ áo đằng trước. Hai tay áo thụng rộng có hình hai con phượng bay. Thân áo có hình hai con rồng to lượn từ sau lưng vắt qua hai vai về ngực. Trước và sau áo thêu những con sóng. Vì hoa văn to mà khổ gấm nhỏ nên gấm phải dệt thành bốn khổ. Phải thuê thợ may giỏi cắt áo để sao cho khớp với các hoa văn với nhau. Khi dệt phải dùng bốn thoi có suốt bốn màu chỉ xanh, đỏ, tím, vàng. Nền áo là mầu vàng đặc trưng của vua chúa. Nghe đâu ông phải dệt đủ mười hai áo, may xong chỉ chọn lấy một cái đẹp nhất dâng vua.
Ông đưa cho tôi xem tấm ảnh Tổng thống Bin Clintơn trong chuyến thăm Việt Nam đang xem triển lãm tại Văn Miếu, nghe giới thiệu về triều phục của vua nhà Nguyễn. Ông giải thích: “Đây là bốn bộ triều phục nhà Nguyễn, tôi và ông Trịnh Bách – Việt kiều từ Mỹ về khôi phục lại”. Người Việt kiều không biết mê những bộ triều phục nhà Nguyễn từ bao giờ mà quyết tâm trở về nước tìm người khôi phục lại. Ông Bách bỏ cả việc giảng dạy, bán tài sản về Việt Nam hàng năm trời, tìm đến Vạn Phúc gặp ông Mão. Ông tâm đắc lắm, bắt tay vào công việc, quyết tâm làm được bằng người xưa. Để có được những tấm lụa làm nền cho những bộ triều phục ấy, ông đã bỏ biết bao công sức, tiền của suốt 6 năm trời (1994 - 2000). Chỉ nói riêng khâu dệt, bình thường một máy dệt mỗi ngày từ 8 – 10 mét thế mà 8 – 10 mét lụa nền cho những bộ triều phục phải dệt trong một năm trời. Ông đã góp phần quan trọng giúp ông Trịnh Bách khôi phục bốn bộ triều phục được dư luận đánh giá cao trong dịp Festival ở Huế. Ông Trịnh Bách vô cùng cảm phục nói với một nhà báo rằng: “Khó có một nghệ nhân thứ hai như ông Mão?”.
Hôm tôi gặp Nguyễn Hữu Chỉnh, Chủ tịch Hội nghề xã Vạn Phúc, ông cho biết: “Cái khó hiện nay là tìm đầu ra cho sản phẩm lụa. Mặc dù sản xuất nói chung giảm sút nhưng một số nghệ nhân giỏi như ông Mão thì sản phẩm vẫn tiêu thụ tốt, họ có khách quen từ Hà Nội,Tp.Hồ Chí Minh và cả khách nước ngoài đặt hàng thường xuyên”. Ông cũng vừa mua thêm hai máy nữa, mấy hôm nay đang lúi húi lắp đặt. Tâm huyết với nghề không chỉ giúp ông trong việc mưu sinh mà còn góp phần đem lại những giá trị nhân văn cho sản phẩm lụa Việt Nam, cầu nối giao lưu văn hoá với các dân tộc khác trên thế giới. Cơ sở sản xuất của ông Trịnh Văn Mão làng lụa Vạn Phúc là địa chỉ tin cậy của du khách trong và ngoài nước.

Ngọc Phúc - Doanh nhân Việt Nam xưa & nay
Arrow2 Triệu phú làng dệt phục chế lại mẫu sa cổ 250 năm