Title_left HỒ SƠ THÀNH TÍCH Title_right
 
Zoom
 
Le-viet-duoc
Doanh nhân Lê Viết Dược
Lu-thanh-long
Doanh nhân Lữ Thành Long
Luunguyentragiang
Doanh nhân Lưu Nguyễn Trà Giang
Luong-dinh-dung
Doanh nhân Lương Đình Dũng
Luong-ngoc-nho
Doanh nhân Lương Ngọc Nho
Luong-ngoc-quy
Doanh nhân Lương Ngọc Quy
Luong-xuan-vinh
Doanh nhân Lương Xuân Vinh
Mai-danh-luu
Doanh nhân Mai Danh Lưu
Tranvansen DOANH NHÂN TRẦN VĂN SEN
“SEN VÀNG” ĐẤT VIỆT

Sự xuất hiện và chiếm lĩnh thị phần một cách ngoạn mục, chóng vánh của “Bia Đại Việt” với sologan ấn tượng “Bia Đại Việt, đêm của đắm say, ngày của bạn hữu, bia của những khát khao” trong dịp Xuân Bính Tuất 2006 đã khiến không ít các hãng bia tên tuổi bất ngờ. Ngạc nhiên hơn khi chính sự bứt phá kỳ diệu của loại bia hảo hạng này lại được khởi nguồn từ ý chí, nghị lực phi thường và “tầm nhìn xa trông rộng” của một người đàn ông đã bước sang tuổi 70 ở một vùng đất lúa. Cuộc đời và sự nghiệp kinh doanh của ông gắn liền với những thăng trầm của đất nước. Mà ở đó, có cả những ấu trĩ của thời bao cấp, có không khí tươi mới của thời kỳ chuyển đổi, có cả những mâu thuẫn trong nhận thức của những con người... Có ngọt bùi, cay đắng và cả những vinh quang! Nhưng bằng cái Tâm sáng ông đã đang và tiếp tục từng ngày, từng giờ đưa những sản phẩm dệt Hương Sen truyền thống hay sản phẩm bia hiện đại mang hương vị quê hương tới bạn bè khắp năm châu, bốn biển, góp phần nhỏ bé của mình vì một Việt Nam hùng mạnh, giàu đẹp. Vâng! Ông chính là Nghệ nhân Trần Văn Sen – Tổng Giám đốc Công ty sản xuất, kinh doanh XNK Hương Sen, Tỉnh Thái Bình, một hình tượng tiêu biểu của doanh nhân Việt Nam thời kỳ đổi mới, một bông sen vàng ngát hương trong rừng sen đất Việt.
Khơi dậy làng nghề truyền thống

Ông sinh ra tại Phương La, Hưng Hà, Thái Bình. Nhưng ở cái thời của ông người ta vẫn quen gọi là Làng Mẹo, một làng nhỏ nằm ở phía Nam huyện Hưng Hà bây giờ. Làng Mẹo nổi tiếng khắp vùng với cái “nôi” của nghề dệt truyền thống. Năm 1937, những tấm vải được dệt lên từ đôi bàn tay khéo léo của các nghệ nhân làng Mẹo lần đầu tiên đã được xuất khẩu sang Nhật Bản. Người có công đầu trong việc thiết lập buôn bán với các thương gia Nhật phải kể đến là cụ Trần Văn Tuân - ông nội nghệ nhân Trần Văn Sen. Nhưng chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra đã cắt đứt con đường thông thương vừa thiết lập chưa được bao lâu. Mất mối làm ăn lớn, cùng với sự ảnh hưởng của chiến tranh khiến gia đình ông và làng nghề rơi vào hoàn cảnh khó khăn. Năm đó ông Sen mới 10 tuổi. Tận mắt chứng kiến nạn đói khủng khiếp hoành hành, người thì chết, người thì bỏ làng ra đi, ông những tưởng mình và gia đình không trụ nổi. Nhà ông là một trong những gia đình đi đầu trong phát triển nghề truyền thống, cuộc sống hàng ngày không phải dựa vào cây lúa mà dựa vào đôi bàn tay dệt lên những tấm vải. Cho nên đối với các thành viên trong gia đình, mất nghề là mất tất cả. Cùng với nỗi trăn trở của cả nhà “bằng mọi giá phải giữ nghề, giữ làng nghề”, mặc dù mới 10 tuổi nhưng ông rất tích cực tham gia nghiên cứu, sản xuất vải, khăn mặt, màn... phục vụ cho kháng chiến. Chiến tranh ngày càng ác liệt hơn, bên cạnh việc phụ giúp gia đình dệt vải, ông xung phong thay bố mẹ tham gia hoả tuyến, gánh đạn vượt đèo phục vụ cho các chiến dịch góp phần vào chiến thắng chung của Miền Bắc. Hoà bình lập lại, nghề dệt của làng Mẹo có điều kiện phục hồi. Ông thấy buồn nhưng không thể trách và cũng không ngăn cản từng đoàn người theo nhau đi nơi khác lập nghiệp. Thực tế lúc đó rất khó khăn, theo nghề đã khó, phát triển làng nghề đang bị mai một lại càng khó hơn. Chỉ có tình yêu nghề và sự nhận thức trách nhiệm phải duy trì, gìn giữ, phát triển nghề truyền thống đang chảy tràn trong huyết quản mới giúp ông đứng vững và vượt qua thử thách cam go này. Ông lặng lẽ rời làng nhưng không phải đi lập nghiệp ở nơi khác như mọi người mà tìm đến các làng nghề Vạn Phúc (Hà Tây) hay dệt lụa Nam Định... để học hỏi kinh nghiệm. Với quyết tâm nung nấu duy trì và phát triển nghề truyền thống kết hợp với những kinh nghiệm quý giá đúc rút từ thực tế trong các làng nghề, năm 1968 cùng với các thành viên khác trong gia đình ông đứng lên thành lập tổ sản xuất Tân Phương. Ông mạnh dạn đầu tư, cải tiến công nghệ phù hợp, tìm kiếm thị trường đầu ra cho sản phẩm. Thừa hưởng cái tài, cái khéo trong làm ăn, buôn bán từ ông nội, ngay từ lúc mới bắt đầu sản xuất đến khi giao hàng cho các cơ sở bao giờ Tân Phương cũng tính toán, cân đối đảm bảo yếu tố chất lượng và hiệu quả. Chính áp dụng phương thức làm ăn mới đã giúp Tân Phương tạo được uy tín đối với khách hàng và sự tin tưởng đối với các thành viên trong tổ. Điều đó hoàn toàn trái ngược với hoạt động ngày càng kém hiệu quả của HTX thủ công dệt nhuộm xuất khẩu nặng nề về quản lý hành chính bao cấp. Thế rồi, ông bị “kiện”, bị khám xét, bị chất vấn và bị nghi là “có mắc ngoặc, có mầm mống TBCN...”. Các cơ quan chức năng phải vào cuộc, họ đến cả những mối làm ăn của Tân Phương để kiểm tra. Cuối cùng, chân lý cũng thuộc về ông.
Vững tin với cách làm ăn mới đầy hiệu quả, từ tổ sản xuất Tân Phương những tấm vải lon kẻ, vải si, pho, thổ cẩm in hoa cao cấp lại lên đường xuất ngoại đến những vùng đất mới. Vậy là mơ ước tiếp tục con đường mà người ông nội “khai phá” cách đó vài chục năm về trước đã trở thành hiện thực. Thành công này cũng mở ra hướng đi mới cho làng nghề, kéo theo hàng loạt các tổ sản xuất thủ công nghiệp hình thành và phát triển và là tiền thân của những công ty, xí nghiệp Phương La lớn mạnh hôm nay. ánh sáng của công cuộc đổi mới sau Đại hội Đảng 6 mở ra sự phát triển cho tổ sản xuất Tân Phương nói riêng và các tổ hợp sản xuất tư nhân nói chung. Nhờ sự động viên, khuyến khích của lãnh đạo trung ương, lãnh đạo tỉnh đồng thời là mong muốn, trách nhiệm mang nghề dệt đến với nhiều người, ông Trần Văn Sen quyết định chuyển lên Hưng Hà để mở rộng sản xuất. Ông phải thuyết phục, phân tích để mọi người trong gia đình xoá bỏ tư tưởng “đưa nghề dệt ra khỏi luỹ tre làng mình là mất nghề”. Dù khó khăn, cuối cùng ông cũng giải quyết ổn thoả và còn được những người trong họ tộc dốc hầu bao cho mượn hơn 100 cây vàng để thực hiện ý nguyện. Cảm tạ tấm lòng của mọi người, tạm chia tay gia đình, xa người vợ thuỷ chung, ông hồ hởi đến vùng đất mới. “Xí nghiệp dệt nhuộm in hoa Hương Sơn” là Xí nghiệp tư nhân đầu tiên của Tỉnh Thái Bình đã ra đời trong hoàn cảnh thế đó.
Tưởng mọi việc êm xuôi, ai dè Xí nghiệp gặp phải rào cản trong việc tiếp nhận mặt bằng mới. Nhận bàn giao mặt bằng từ Công ty thương nghiệp huyện xong xuôi, nhưng trên thực tế Công ty này đã giao cho 3 đơn vị quản lý. Chỉ có một cơ sở đồng ý chuyển lại cho Xí nghiệp, hai trong 3 đơn vị còn lại dứt khoát là không chuyển mặc cho ông phân tích thiệt hơn. Kết hợp với sự ủng hộ của huyện, bằng tình cảm chân tình ông đã thuyết phục được họ chuyển đi giao lại mặt bằng cho Xí nghiệp. Rồi lại đau đầu với mấy vụ can thiệp của những phần tử quấy rối. Suy nghĩ, trăn trở trong việc triển khai xây dựng nhà xưởng, lắp đặt thiết bị trong giai đoạn đầu đã làm ông gầy rộc, hốc hác. Vợ con ông được một phen lo lắng không yên cho sức khoẻ của ông. “Có đất dựng võ” nhưng lại phát sinh thêm khó khăn khi vấn đề vốn đầu tư sản xuất ngày càng eo hẹp. Vừa thu hút thêm lao động, đào tạo và đưa vào sản xuất vừa phải lo đầu ra khi chưa có thị trường đã đẩy Xí nghiệp vào tình trạng: hàng hoá ứ đọng trong kho, không có tiền trả lương công nhân và mua nguyên liệu… Lên phương án vay ngân hàng quá khó, lại phải chịu lãi suất cao một cách vô lý, đơn vị quốc doanh vay ưu đãi 2,7% trong khi xí nghiệp tư nhân như ông chấp nhận chịu lãi suất lên tới 12%, do vậy sản xuất được đồng nào trả lãi ngân hàng là vừa, nhiều khi còn bị lỗ. Nhưng giờ đây, ngay cả phương án chịu lãi suất cao như vậy mà ngân hàng còn khước từ không cho vay tiếp. Điều đó đồng nghĩa với việc đóng cửa Xí nghiệp và hàng trăm con người có nguy cơ mất việc làm. Chẳng ngại vất vả ông lăn lộn hết lên tỉnh lại xuống huyện vay ngân hàng. Phó giám đốc ngân hàng về kiểm tra vẫn quyết không cho vay. Không nản chí, ông Sen chỉ nghĩ một điều Xí nghiệp sẽ đi lên thoát khỏi giai đoạn này nếu có tiền. Ông kiên trì lên Tỉnh đề nghị tiếp, quyết gặp bằng được Giám đốc Ngân hàng để trình bày nguyện vọng. Lần này đích thân Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Tỉnh xuống kiểm tra thực tế. Hơn cả mức ông mong đợi, sau một ngày làm việc ông Giám đốc quyết định cho Xí nghiệp vay, lại được ưu tiên vay với lãi suất ưu đãi. Đó là một tiền lệ chưa từng có ở một Xí nghiệp tư nhân lúc bấy giờ. Ông mừng rơi nước mắt và cảm kích trước sự “đặc cách” của vị giám đốc ngân hàng. May mà ông gặp được ông ấy, lại được nhìn nhận đúng đắn chứ không Xí nghiệp chỉ còn nước tuyên bố phá sản.
Khấp khởi mừng vui với những đồng tiền vay có ý nghĩa đang đánh thức hoạt động của cả xí nghiệp sôi động trở lại, ông chợt sững người khi có lệnh kiểm tra toàn Xí nghiệp do chính ông Chủ tịch huyện ký với lý do “không hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế”. Sau khi kiểm tra một lượt, đoàn kiểm tra kết luận không vi phạm pháp luật nhưng buộc xí nghiệp nộp phạt 10 triệu đồng tiền thuế”. Còn nhớ khi lãnh đạo động viên ông xuống mở mang Xí nghiệp đã nhất trí miễn thuế hai năm đầu.
Giờ chưa hết hai năm, sao họ lại phạt? Chuyện miễn thuế chỉ nói bằng miệng, chẳng có văn bản quy định. Hay tại họ đã quên? Chẳng còn đầu óc tập trung sản xuất, ông gặp thẳng Chủ tịch, Bí thư huyện báo cáo. Lại càng khó hiểu hơn khi hai vị này khuyên ông thôi thì cứ nộp rồi bàn cách miễn sau. Nếu chấp nhận theo ý kiến này thì hóa ra ông thừa nhận mình là người trốn thuế. Mà từ trước tới nay bao giờ ông cũng làm theo pháp luật, thực hiện theo đúng chủ trương, chính sách của nhà nước. “Nếu nộp bây giờ là tôi sai, tôi sai là huyện sai, tỉnh sai”. Ông kiên quyết không nộp. Và cuối cùng ông đã thắng! Từ những khó khăn, bỡ ngỡ ban đầu Xí nghiệp đã từng bước vươn lên, đi đầu trong phong trào “Phương La hoá” của huyện Hưng Hà, không những thu hút tạo nghề cho trên 300 lao động mà còn giúp hàng ngàn vệ tinh ở các xã trong huyện phát triển thành các làng nghề....
Nhìn lại quãng thời gian đã qua, một mặt ông mong muốn phát triển Xí nghiệp tiến lên đồng thời cũng xuất phát từ gợi ý, niềm tin tưởng mà đồng chí Đỗ Mười – lúc đó là chủ tịch HĐBT nhân chuyến về thăm Xí nghiệp đã bày tỏ, nghệ nhân Trần Văn Sen mạnh dạn di chuyển cả cơ sở lên thị xã Thái Bình, chuyển đổi mô hình hoạt động lên thành “Công ty TNHH dệt nhuộm in hoa xuất khẩu Hương Sen” nâng vị thế, tầm vóc của Xí nghiệp đủ sức cạnh tranh với thị trường trong nước và quốc tế. Giống như khi thành lập xí nghiệp, Công ty TNHH dệt nhuộm in hoa xuất khẩu Hương Sen trở thành doanh nghiệp đầu tiên của Tỉnh Thái Bình thực hiện Luật Doanh nghiệp.
Ký ức buồn về việc chậm trễ, vướng mắc trong quá trình bàn giao mặt bằng 4 năm về trước ông vẫn chưa quên. Rút kinh nghiệm từ lần đầu, đơn vị cũ nhất trí nhượng quyền sử dụng đất ông nhanh chóng hoàn thành việc xây dựng nhà xưởng. Đang lắp đặt thiết bị thì phía đơn vị cũ “giở chứng” cho quân đến đòi đất. Cực chẳng đã, ông đành “ngậm bồ hòn làm ngọt”, rồi lại mất bao ngày lên xuống mới xin được lô đất khác đổi cho họ. Việc ông rời lên Tỉnh lập Công ty, chịu bao vất vả, tốn kém chỉ mong sao công ty phát triển, thu hút nhiều lao động và dệt ngày càng nhiều những tấm vải Hương Sen đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Chưa bao giờ ông nghĩ tới lợi ích của bản thân mình. Vậy mà, không ít “lời ong tiếng ve” chỉ trích ông “ông doanh nghiệp làng Mẹo này cốt chiếm đất mặt đường, rồi xẻo dần đi bán kiếm lời chứ nhà máy, nhà miếc gì”. Giận lắm, nhưng ông cứ lẳng lặng dồn sức lực vào nhà máy, chẳng có hơi sức đâu mà đối đáp lại thiên hạ. Ông muốn chứng minh cho mọi người bằng chính hiệu quả. Thời gian sẽ trả lời tất cả. Ông tự hứa với lòng mình.
Cứ nghĩ “sau cơn mưa trời lại sáng”, đời ông quen vất vả mà chưa có mấy giây phút huy hoàng, lần này ông đã tính toán thận trọng lắm nên cũng đặt nhiều hy vọng. Chẳng ngờ, vừa xong giai đoạn đầu tư, bắt đầu triển khai sản xuất thì hàng loạt biến động lại bất ngờ “gõ cửa”. Đầu tiên là sự sụp đổ của các nước Đông Âu làm sụt giảm nghiêm trọng sản lượng xuất khẩu. Chưa kịp hoàn hồn với thị trường nước ngoài, thì công ty lại đứng trước nguy cơ xâm chiếm ồ ạt của các sản phẩm dệt may Trung Quốc vừa rẻ, vừa đẹp tràn ngập thị trường trong nước. Công ty TNHH dệt nhuộm in hoa xuất khẩu chống chọi yếu ớt trước đòn trời giáng. Liên tiếp bị “tấn công” nhưng ông Sen vẫn không hề nhụt chí. Ông vẫn ngày đêm trăn trở tìm lối thoát cho Công ty. Nếu tìm thị trường mới thì nhanh cũng phải mất vài tháng, chậm có khi tới vài năm trong khi tình thế bắt buộc không thể kéo dài. Cùng với Ban lãnh đạo công ty ông đã mạnh dạn vạch ra định hướng: song song với việc duy trì, mở rộng nghề truyền thống bằng cách thâm nhập, khai thác các thị trường mới, Công ty sẽ đầu tư thêm lĩnh vực mới. Đó là cách nghĩ hoàn toàn mới và táo bạo bởi thời điểm đó một công ty tư nhân kinh doanh đa dịch vụ bị coi là chuyện ngược đời, nhất là khi nghe tin ông Sen “dệt vải” chuẩn bị đầu tư sản xuất bia, lại là loại bia cao cấp, tất nhiên sẽ phải nhập công nghệ hiện đại. Lý do ông chọn kinh doanh mặt hàng này thì nhiều lắm, nhưng ông theo tính thì đó là một lĩnh vực có thị trường rộng, mang lại lợi nhuận lớn, trong khi nhu cầu sử dụng sản phẩm không ngừng tăng theo mức độ tiến bộ của cuộc sống hiện đại. Thêm vào đó, trên phạm vi Thái Bình và các tỉnh lân cận chưa có nhà máy bia cao cấp nào. Ông tính đầu tư cho tương lai. Vậy mà người đồng ý ủng hộ cũng nhiều, người phản đối cũng không ít. Có người còn dè bỉu “nghệ nhân dệt chỉ biết thoi ngang, thoi dọc, uống bia chưa sành nói gì đến sản xuất. Cái tỉnh lúa nhỏ như lòng bàn tay chủ yếu là nông dân, bia “thấp cấp” còn chẳng có tiền nói gì đến “cao cấp”...”. Mặc bàn dân thiên hạ tha hồ mà bàn tán. Ông dám vay một lúc hàng trăm tỷ đồng cùng với vốn tự có để mua thiết bị công nghệ sản xuất bia tiên tiến của Cộng hoà Liên bang Đức. Trong lòng ông đang mơ đến một ngày không xa, những cốc bia Beyker hảo hạng, sóng sánh ánh vàng sẽ được mọi người khắp các miền nâng niu, thưởng thức. Trên dây chuyền hiện đại, sản phẩm bia chất lượng cao đã chính thức xuất xưởng trong niềm vui, hạnh phúc vô bờ của ông. Mọi việc đang diễn ra theo chiều hướng tốt. Bất ngờ, tốc độ bán ra của bia Beyker chững lại, rồi tụt hẳn chỉ vì những tin đồn thất thiệt, sai lệch. Nào là “uống bia Beyker nguy hại đến sức khoẻ, ảnh hưởng đến hạnh phúc lứa đôi...”. Dù chỉ là những tin đồn, vậy mà ông lại thêm một lần “chết đứng”. Đang trong giai đoạn “nước sôi, lửa bỏng”, doanh thu tụt giảm ông cần tiền để mua nguyên vật liệu, hoàn thiện thiết bị, quảng bá thương hiệu nhằm lấy lại uy tín…thì Giám đốc ngân hàng trực tiếp cho vay bị bắt giam. Lại đúng thời điểm rối ren khi một số nơi nông dân Thái Bình đấu tranh. Những người lãnh đạo cao nhất của Tỉnh trực tiếp ủng hộ dự án xây dựng nhà máy đã phải nghỉ hết. Bực nhất là Giám đốc Ngân hàng mới nhất quyết không cho Nhà máy vay thêm, lại còn mỉa mai ông “Nay chủ doanh nghiệp bia, mai bán bánh mỳ..”. Vị giám đốc này chỉ bằng tuổi con ông vậy mà dám nói như tát nước vào mặt ông “Tôi nói cho ông biết, ông bán nhà máy bia đi mà về với ngành dệt”. Ông giận tê tái trước thái độ có phần xấc xược, lăng mạ ông của vị giám đốc ngân hàng, nhưng vẫn giữ thái độ tôn trọng, đúng mực: “Thưa giám đốc…”. Chưa dứt lời, ông giám đốc đã gạt phắt đi “Bán ! Bán nhà máy đi, không thưa gửi gì hết. Tôi sẽ không bao giờ cho ông vay, dù chỉ là một xu”. Không có vốn lưu động, nhà máy sản xuất cầm chừng, công nhân thiếu việc, mở mắt ra mỗi ngày đã mất 15 triệu tiền lãi đầu tư, một tháng vụt qua mất nửa tỷ... Dư luận và cả báo chí gần xa lên tiếng, hết đoàn kiểm tra này, lại đến đoàn thanh tra khác từ trung ương đến địa phương xuống nhà máy. Thậm chí, kiểm toán nhà nước cũng vào cuộc. Mệt mỏi, thất vọng trào dâng, ông như người mất phương hướng, nhưng kiên quyết phải giữ bằng được nhà máy. Đó là tâm huyết, là danh dự mà còn xu thế tất yếu của thời đại, là tiềm năng lâu dài của cả tỉnh. Không lẽ chỉ vì khó khăn nhất thời lại phải chịu bó tay. Nhìn cỗ máy hiện đại, nhìn những lon bia cao cấp phải đổ đi vì quá đát, lòng ông không khỏi xót xa. Nhưng ông được an ủi khi trong khó khăn, căng thẳng nhất vẫn luôn có những cộng sự đắc lực chung sức, tập trung giải quyết mọi việc êm thấm và luôn tin tưởng sẽ nhanh chóng vượt qua giai đoạn khủng hoảng này. Huy động vốn từ anh em, bạn bè, thậm chí vay từ các cá nhân chấp nhận lãi suất cao ông mới “cứu” nổi nhà máy khỏi đóng cửa. Cuối cùng, các đoàn kiểm tra kết luận Hương Sen đầu tư đúng hướng, không có sai phạm trong quản lý. Đồng chí Đào Duy Thành còn nhấn mạnh “Đây là nhà máy hiện đại, như một chiếc bô inh chờ ngày cất cánh. Phải bảo vệ nó…” Đó là nguồn động viên lớn lao và vô cùng quý giá giúp ông vững tin đi tiếp con đường đã chọn.
Khai sinh nhà máy lần thứ hai

Bên cạnh việc không ngừng mở rộng sản phẩm dệt, lấy phần lãi “gánh đỡ” sản phẩm bia, ông cũng từng bước lên kế hoạch thâm nhập thị trường giới thiệu sản phẩm mới này. Còn vấn đề vốn đầu tư? Ngân hàng Tỉnh đóng cửa không cho vay, ông nghĩ cách lên Hà Nội, trực tiếp tìm gặp lãnh đạo Ngân hàng Công thương Việt Nam. Tổng giám đốc rồi Phó Tổng Giám đốc có lý do không tiếp. Không nản chí, ông xin gặp Chủ tịch HĐQT. Chẳng mấy để ý đến thái độ lành lạnh, miễn cưỡng của ông Chủ tịch, đối với ông chấp nhận lời hẹn của vị lãnh đạo lúc này đã là một thắng lợi. Từ thái độ từ chối thẳng thừng ban đầu, ông Chủ tịch chịu lắng nghe và thoáng sừng sờ trước thông tin của vị giám đốc cao tuổi. Đã có sự mâu thuẫn giữa thông tin “mật” của chi nhánh Ngân hàng công thương Thái Bình hàng tháng với những lời từ chính doanh nhân Trần Văn Sen. Với sự nhạy cảm của một lãnh đạo, ông Chủ tịch muốn tìm lời giải đáp thực sự chính xác bằng quyết định thân chinh xuống làm việc tại Hương Sen. Lãnh đạo ngân hàng quyết định cắt bỏ việc bán nhà máy, tiếp tục cho vay để nhà máy vượt qua giai đoạn chông gai này. Quyết định sáng suốt đó không chỉ “khai sinh” nhà máy lần thứ hai mà còn xây đắp niềm tin cho người lao động và các doanh nghiệp khác phát triển phù hợp với mục tiêu chung của cả tỉnh, của đất nước. Ông Sen như “mọc” thêm đôi cánh, hết vào Nam lại ra Bắc tìm kiếm đối tác, bạn hàng. Bắt tay thay đổi hình thức, nâng cao chất lượng hợp “gu” của khách hàng kết hợp với sự kiên trì, bền bỉ trong tiêu thụ, sau một thời gian “Bia Hương Sen” đã xuất hiện tại các Thành phố lớn và hầu khắp các tỉnh thành trong cả nước. Khách hàng từ chỗ chưa quen đến chỗ tin cậy sử dụng sản phẩm. Nhà máy từ chỗ chìm trong buồn tẻ như có phép lạ rộn ràng, nhộn nhịp hẳn lên. Năm 2004, 2005 Hương Sen tạo được sự bứt phá khi trở thành đơn vị nộp thuế đứng đầu Tỉnh với tổng mức gần 80 tỷ mỗi năm; phấn đấu đóng trên 100 tỷ tiền thuế vào năm 2006 này. Sản lượng bia tiêu thụ không ngừng tăng lên đồng thời Công ty đã thu hút và đảm bảo việc làm ổn định cho gần 600 lao động và hàng ngàn lao động vệ tinh giải quyết các khâu tiếp thị, bán hàng, sản xuất vỏ lon, vỏ chai, bao bì nhãn mác và các dịch vụ khác. Tin tưởng vào tương lai phát triển, Công ty tiếp tục đầu tư mở rộng nhà máy bia cao cấp lên 50 triệu lít/ năm nhằm giải quyết thêm lao động vào làm việc, đóng góp ngày càng nhiều vào ngân sách nhà nước. Vì mục tiêu lâu dài và phát triển bền vững, ông đã đầu tư 10 tỷ đồng xây dựng và đưa vào sử dụng cuối tháng 12 năm 2005 một Nhà máy xử lý nước thải công nghiệp công suất 2.000 m3/ngày đảm bảo môi trường công ty luôn sạch đẹp. Mới trình làng, nhưng Bia Hương Sen đã có bộ sưu tập ấn tượng với 14 Huy chương Vàng qua các kỳ hội chợ, triển lãm, hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001 – 2000, giải thưởng Sao vàng Đất Việt năm 2003, một trong 84 thương hiệu mạnh Việt Nam. Cuối năm 2004, nhất là dịp cuối năm 2005 Bia Đại Việt – thương hiệu mới của Hương Sen đã cùng mọi nhà trên khắp Việt Nam, từ thành phố đến miền đảo xa xôi như Phú Quốc hân hoan chào đón mùa xuân. Đại Việt – nhà nước Việt Nam hùng mạnh, tự chủ đầu tiên mở đầu trang sử hào hùng của dân tộc và Bia Đại Việt hôm nay mở ra hướng phát triển mới cho nhà máy Bia Hương Sen; vị Bia Đại Việt đã mang lại cho mỗi người con đất Việt cảm giác “gai người vì nhớ lại tên gọi của tổ quốc, nhớ về một thời đại hoàng kim và oanh liệt nhất trong suốt chiều dài lịch sử hàng ngàn năm dựng và giữ nước của dân tộc”; đó là sự kết hợp hài hoà giữa công nghệ tiên tiến trên thế giới với kinh nghiệm nấu bia hàng trăm năm của người Việt Nam, giữa sự nghiên cứu sâu sắc về cái Gu và nhu cầu thiết yếu của mỗi người tiêu dùng đồng thời biết khơi dậy vốn văn hoá truyền thống, nhắc nhở sự chú ý tới dân tộc, gắn kết giữa quá khứ, hiện tại và tương lai. Đối với một con người luôn trăn trở vì sự phát triển của quê hương đất nước như ông Trần Văn Sen thì những thàng công của Công ty hãy còn khiêm tốn lắm. Ông mơ ước có thể đem hương vị đắm say của loại bia hảo hạng này tiến xa hơn nữa. Và tháng 2 năm 2006 là một mốc lịch sử quan trọng vì lô hàng đầu tiên của Đại Việt đã lên đường sang Mỹ, mở đầu cho một hướng đi mới cho ngành giải khát nước nhà. Thêm một lần nữa, khẳng định chất lượng quốc tế của một thương hiệu sản sinh từ miền đất lúa “Bia Đại Việt, đêm của đắm say, ngày của bạn hữu, bia của những khát khao” sẽ còn vươn rộng và xa hơn nữa.

Thành công từ sự gắn bó với cộng đồng, văn hoá doanh nghiệp

Đối với nghệ nhân Trần Văn Sen – Tổng giám đốc nói riêng và Công ty sản xuất, kinh doanh XNK Hương Sen nói chung luôn quan tâm và đi đầu trong công tác xã hội. Hiếm có doanh nghiệp ngoài quốc doanh nào như Hương Sen biết quan tâm, xây dựng, tập hợp và phát huy vai trò tích cực của các tổ chức đoàn thể trong cuộc sống và ảnh hưởng tốt đến cộng đồng đến vậy. Ngay từ khi còn là xí nghiệp, đích thân ông đề nghị thành lập chi bộ Đảng. Trên cơ sở bám sát hoạt động của Xí nghiệp, chi bộ soạn ra nội dung sinh hoạt hợp lý, tác dung tích cực trong thực tiễn. Gần 20 năm qua, từ chỗ chi bộ có 3 Đảng viên đã phát triển thành một Đảng bộ với hơn 40 Đảng viên chủ yếu là đảng viên trẻ. Nhiều năm liên tục đạt danh hiệu Đảng bộ trong sạch vững mạnh. Từ điểm tựa là chi bộ Đảng, các tổ chức đoàn thể khác như: công đoàn, Hội LHTN, Hội CCB, Hội phụ nữ…cũng dần dần được hình thành và phát triển. Yếu tố văn hoá doanh nghiệp luôn được công ty đặt lên hàng đầu. Không chỉ đặt lợi ích nhà nước, quyền lợi người lao động là trước tiên; công ty đặc biệt trung thành với chất lượng của các sản phẩm do mình sản xuất ra. Hương Sen là doanh nghiệp đầu tiên cam kết thực hiện Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, chịu trách nhiệm trước toàn xã hội về chất lượng mỗi sản phẩm đưa ra thị trường. Trong văn hoá bán hàng, công ty đã xây dựng một phong cách bán hàng lịch sự, cạnh tranh lành mạnh. Riêng trong nội bộ công ty, ý thức về dân tộc, cuội nguồn luôn được đặt ra; mỗi CBCNV luôn đề cao tinh thần lao động tự giác, có kỷ cương, nề nếp, trật tự. Chính những nhân tố điển hình từ các tổ chức này luôn phát huy vai trò nòng cốt trong những giai đoạn khó khăn gian khổ, đoàn kết cùng nhau tiến lên. Không ít lần Hương Sen rơi vào tình trạng tưởng chừng không thể cứu vãn được nhưng nhờ tập thể luôn sát cánh bên nhau, tin tưởng chung sức chung lòng đã giúp họ vượt qua tất cả. Không chỉ là một người Đảng viên mẫu mực, ông Trần Văn Sen còn được bầu làm đại biểu nhân dân huyện, mặt trận tổ quốc Việt Nam ngay những năm đầu thập niên 90. Trong hành trình kinh doanh đầy gian khó, ông gặp không ít “con sâu làm giàu nồi canh”, lúc trong vay vốn, lúc trong giải phóng mặt bằng nhưng ông vẫn lạc quan và tin tưởng bởi vẫn còn nhiều những cán bộ thực sự vì dân, vì sự phát triển của doanh nghiệp lắm. Không thể đổ lỗi cho cơ chế, vì dù ở thời điểm nào chỉ cần người lãnh đạo thực sự có “Tâm – Tầm” đã giúp nhiều doanh nghiệp như Hương Sen có thể đi lên từ “vũng bùn lầy lội”. Chính ông đã đi lên từ niềm tin và sự kiên trì cũng như may mắn gặp được các lãnh đạo như thế.
“Sợi chỉ nhỏ, bàn tay vàng, tấm lòng son dệt nên
cơ nghiệp lớn
Đất nước mạnh, quê hương giàu, đức tổ tiên
chỉ hướng tới tương lai”.
Vâng. Đó là những lời tâm huyết cô đọng sâu sắc về chân dung nghệ nhân, doanh nhân Trần Văn Sen của Nhà báo Thế Lịch - người đã gắn bó với những thăng trầm, vinh quang trong bước đường kinh doanh của ông. Quả vậy, dưới bàn tay Vàng của nghệ nhân, với trí tuệ sắc bén của người Việt và tinh thần dân tộc cao cả, doanh nhân Trần Văn Sen đã bứt trên cái khắc nghiệt của đời thường, sóng gió thương trường, khôi phục và phát triển nghề dệt nhuộm truyền thống của quê hương, đưa sản phẩm tới tay bạn bè khắp năm châu; đặc biệt, ông sẵn sàng chấp nhận những con đường kinh doanh mà chưa ai dám làm để đi tìm công nghệ tiên tiến, hiện đại nhất trong ngành bia, đưa ra dòng sản phẩm mang thương hiệu Đại Việt, không chỉ hợp nhu cầu thưởng thức của người dân khắp các vùng miền mà đã tạo ra “hương vị” khơi dậy vốn văn hoá truyền thống hàng ngàn năm của dân tộc, gắn kết giữa quá khứ - hiện tại và tương lai. Tiếp nối bước chân của các doanh nhân tiền bối, toàn tâm toàn ý cho sự nghiệp làm giàu đất nước, ông đã từng bước phát triển Hương Sen lên tầm cao mới, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ cho nền công nghiệp vùng đất lúa Thái Bình, xây dựng thương hiệu Đại Việt vững mạnh, góp phần đẩy mạnh thế đứng Việt Nam trên con đường hội nhập. Tự hào là một hậu duệ của Hoàng đế nhà Trần oanh liệt, xứng đáng với biểu tượng vàng Bạch Thái Bưởi, vinh quang là một trong số 100 doanh nhân Việt Nam tiêu biểu năm 2006, Nghệ nhân - doanh nhân Trần Văn Sen đã để lại cho lớp lớp cháu con dòng họ Trần hình ảnh mẫu mực về văn hoá, đạo lý cội nguồn; góp phần tiếp sức cho đội ngũ doanh nhân nói riêng, thế hệ thanh niên Việt Nam hôm nay vững bước trước thách thức của kinh tế thị trường; gìn giữ giá trị truyền thống của một lịch sử đấu tranh hào hùng của dân tộc. Thời gian có thể trôi nhanh nhưng cội nguồn và dân tộc vẫn mãi tồn tại, vị bia có thể tan ngay nhưng dư âm cuộc đời vẫn ở quanh ta, dù đã chia tay ông nhưng hình ảnh và hương sắc của “Sen Vàng Đất Việt” mãi thấm đượm trong lòng người viết cùng hàng ngàn đọc giả.

Trường Xuân - Hải Yến - Doanh nhân Việt Nam tiêu biểu

Arrow2 "Sen vàng" Đất việt