|
CON ONG MANG MẬT SANG MỸ
Từ Bến phà Sông Gianh đến cổng trường Đại học Là con
gái của một gia đình cán bộ cách mạng ở miền quê nghèo Quảng Liên,
Quảng Trạch, Quảng Bình. Gia đình đông con, bố đi công tác xa một mình
mẹ tần tảo nuôi các con trong đói nghèo và nghiệt ngã bom đạn của những
năm chống Mỹ. Ấy vậy mà những đứa con trong gia đình cứ lớn lên và
trưởng thành. Chị kể: Những năm 1967 – 1968 trở đi giặc Mỹ ném bom bắn
phá hậu phương Miền Bắc, trong đó Quảng Bình là nơi ác liệt nhất, cái
ăn cái uống đã khổ rồi còn cái học lại khổ gấp bội. Trường cấp ba phải
sơ tán xa, trên trời máy bay ném bom xuống, ngoài biển pháo kích vào.
Phải học dưới hầm. Nhiều gia đình có con học giỏi cũng không dám cho
con đi học xa vì hàng tuần phải đi về lấy gạo, thức ăn qua những chặng
đường thường xuyên bị địch bắn phá. Sau khi tốt nghiệp cấp III chị được
gọi vào học ở Trường đại học Nông nghiệp I Hà Nội. Con gái mới lớn
đi học xa nhà, chị ái ngại, hơn nữa cảnh bom đạn thế này chị lại càng
không muốn đi xa, mà muốn ở nhà đỡ đần giúp mẹ. Nhưng gia đình động
viên vì sự học là truyền thống khoa bảng của gia đình. Lần đầu tiên chị
ra đất Bắc với vài bộ quần áo đơn sơ trong chiếc ba lô bộ đội. Tài sản
quý nhất chị mang theo là đôi hoa tai bằng vàng, mẹ chị tháo ra từ
chính tai mình gói lại trong chiếc khăn mùi soa trao cho con gái. Bà đã
có ý định làm của hồi môn cho con bà trước khi về nhà chồng. Nhưng với
bà, con Dình nó sẽ cần cái này lắm, bởi vì đi học xa nhà, những khi
thiếu thốn hoặc ốm đau, thì đây là tài sản có giá bán đi để giúp Dình
trang trải. Chị nhận tấm lòng của mẹ để mẹ yên tâm khi con gái cất bước
chân đi. Rời phà Sông Gianh, bố đưa Dình ra đến đèo Ngang (Hà Tĩnh).
Hai bố con ôm nhau khóc, bố đưa mười đồng bạc cuối cùng cho con và chia
tay. Ông mong cho con chân cứng đá mềm, phải quyết tâm học để phát huy
truyền thống của gia đình. Trong đoàn người đi ra Bắc theo đường giao
liên, cô bé Dình được nhiều người che chở. Dọc đường Dình chết hụt ở
Bến phà Linh Cảm (Hà Tĩnh) do máy bay bắn phá. Đến Thanh Hoá, Dình gặp
tàu hoả chở than. Lần đầu tiên trong đời, chị nhìn thấy tàu và cũng
thật may mắn, cả đoàn 5 người ra Bắc được ngồi trên toa than khi các
đôi chân cuốc bộ mấy ngày trời đã rã rời, sưng phồng. Cảm giác sung
sướng ấy còn lan tận bây giờ. Khi chị kể cho tôi chiếc tầu than, mặt
chị rạng rỡ hẳn. Chuyến tàu than đã đưa chị về Hà Nội đến với Trường
đại học Nông nghiệp I. Chị thật sự trở thành một nữ sinh viên. Hà Nội
lại bị đánh phá, trường chị sơ tán lên tận Cao Bằng. Bài vở công việc ở
trường không làm chị vợi đi nỗi nhớ nhà. Dăm sáu tháng không có thư
nhà, đến khi nhận thư thì chị được biết bom đã ném đúng nhà, tan hoang,
cũng may mẹ và các em đều sống sót. Căn nhà đổ nát lại được dỡ làm cầu
cho bộ đội qua sông. Khó khăn vất vả là vậy nhưng chị đã vươn lên học
tốt. Con gái miền trong làm dâu miền ngoài, thương trường thân phận gái: Thời
sinh viên một chàng trai cùng lớp đã yêu chị đến say đắm. Anh là một
trong những sinh viên xuất sắc của trường. Anh chàng Lưu như bị hút hồn
bởi cô gái hồn nhiên thông minh. Nhưng hai quê cách trở bao nhiêu núi
sông ; nhưng cách trở lớn nhất là từ hai phía gia đình. Trong cảnh bom
đạn ác liệt của giải đất Miền Trung, mùa hè của năm học cuối, anh Lưu
đã đạp xe từ Vĩnh Phúc vào tận Sông Gianh - Quảng Bình để ngỏ lời cầu
hôn. Phía gia đình của Dình đã khước từ chú rể. Bởi cha mẹ cô không
muốn cô lấy chồng xa lại trong cảnh bom đạn. Chị gái Dình đã mai mối
cho một chàng công an đẹp trai bởi chị muốn gần chị, gần em cuộc sống
có thể đỡ đần giúp nhau. Đành rằng, chàng trai đất Bắc là chàng hào
hoa, dám vượt bom đạn cả chặng đường 500km để về với gia đình người
mình yêu. Cuối cùng, gia đình quá thương con gái mà chấp nhận cho làm
dâu đàng ngoài. Ra trường, chị Dình xin về công tác tại quê chồng,
vùng đất trung du cũng chẳng giàu có gì hơn quê chị. Nhưng “Tình yêu đã
làm đất lạ hoá quê hương”. Mười năm làm kỹ sư vẽ bản đồ quy hoạch cho
hai huyện Tân Dương và Hạ Hoà. Anh Lưu, chồng chị ra trường được cử vào
nuôi ong ở Hoà Bình rồi vào Gia Lai. Những năm khó khăn vất vả, chồng
Nam vợ Bắc, một tay chị nuôi bốn con nhỏ. Những năm vất vả ấy, có lúc
chị tưởng mình ngã gục, có lúc chị định xin chuyển công tác vào Quảng
Bình để bên ngoại đỡ đần cho phần nào. Nhưng rồi nghĩ mình là phận gái
đã theo chồng, chị lại thôi. Năm 1987, trước khó khăn của gia đình,
chồng chị được chuyển ra Bắc về làm ở Công ty Ong Trung ương. Chị Dình
theo chồng về Hà Nội làm ở phòng sinh hoá. Năm 1988 – 1996 chị phụ
trách xưởng sản xuất nước giải khát của công ty, chị thật sự biết làm
“sếp” từ đây, tạo việc làm và thu nhập cao cho nhiều người, cuộc sống
nhiều gia đình được cải thiện. Năm 1996, chị được điều lên phòng phân
tích để quản lý chất lượng ngành ong. Ở cương vị mới, chị có điều kiện
nghiên cứu sâu về mật ong, mỗi năm có ba tháng chị vào Miền Nam kiểm
tra chất lượng mật trước lúc xuất khẩu. Từ năm 1996 trở đi, Xí nghiệp
Vật tư chế biến hàng xuất khẩu (thuộc Công ty Ong TW) nơi chị công tác
gặp khó khăn lớn. Nhiều năm liền xí nghiệp làm ăn thua lỗ, giám đốc bị
đi tù do gian lận hoá đơn tài chính. Cán bộ công nhân của xí nghiệp
không có việc làm, thu nhập thấp, nhiều người bất mãn… xí nghiệp đứng
trên bờ vực giải thể. Vấn đề là tìm ai có khả năng, có tâm, có tình để
vực dậy một xí nghiệp chẳng khác gì một cơ thể còm cõi, ốm yếu. Trước
khó khăn đó, công ty quyết định chọn một người đứng mũi chịu sào để vực
xí nghiệp dậy. Ngày 18/12/2001 chị được công ty quyết định chính thức
bổ nhiệm ở cương vị mới. Nhiều người trong xí nghiệp chưa tin vào khả
năng của chị, thậm chí có những người có kinh nghiệm còn thử chị. Thời
điểm đó, khó khăn nhất đối với chị là giá: xác định giá thu mua mật thế
nào để người nuôi ong có lãi, xí nghiệp có lãi. Trong hoàn cảnh đó, chị
có cuộc “Hội nghị Diên Hồng” để lấy ý kiến của tập thể nhằm định hướng
đúng cho sản xuất. Sau một năm, mọi người có việc làm, chị mở thị
trường tiêu thụ mạnh ở phía nam. Theo chị, Thành phố Hồ Chí Minh dân cư
đông, tỷ lệ người dùng mật ong nhiều. Vả lại, mật ong Miền Bắc thơm và
ngon hơn mật Miền Nam. Nhờ định hướng đúng, sau một năm tìm thị trường
một chủ đại lý ở TP.Hồ Chí Minh đã tiêu thụ cho chị một khối lượng mật
bằng 1/2 lượng mật chị bán trên toàn Miền Bắc. Khi thị trường trong
nước khá ổn định, doanh thu tạm ổn định để nuôi cả xí nghiệp có mức
sống khá rồi, chị bắt đầu tìm đến thị trường xuất khẩu. Mỹ là thị
trường hướng tới đầu tiên. Bởi qua tìm hiểu, chị biết mỗi năm Mỹ nhập
một lượng mật ong rất lớn. Nhưng thị trường Mỹ khó tính, các tiêu chuẩn
nguồn gốc mật, tiêu chuẩn người lao động làm mật, tiêu chuẩn vệ sinh an
toàn thực phẩm rất ngặt nghèo. Với lại, người tiêu dùng Mỹ quen mua
hàng theo thương hiệu. Thương hiệu càng nổi tiếng có nghĩa là chất
lượng hàng rất cao. Chính vì vậy chị phải kết hợp với một ông chủ người
Mỹ bán hàng qua thương hiệu của người này. Nhờ chất lượng mật tốt nên
mật ong của chị Dình được đóng vào 2 loại lọ tiêu chuẩn: 8 - OZ và 16 -
OZ mang thương hiệu Forrelli. Đây là một thương hiệu nổi tiếng về thực
phẩm tiêu dùng Mỹ. Lọ bằng ngựa PE có hình con gấu rất ấn tượng và hấp
dẫn. Theo chị, sở dĩ làm lọ hình con gấu, chẳng qua là để kích thích
người tiêu dùng mua. Gấu là loại thích ăn mật ong nhất. Trước khi ký
kết hợp đồng, ông chủ Mỹ Chad Akhavan sang tận công ty, xuống tận cơ sở
tìm hiểu cách nuôi, nguồn hoa có mật, cách thu hoạch và bảo quản. Họ
hoàn toàn an tâm về chất lượng mật và chị Dình đã ký được hợp đồng bán
mật cho Mỹ liên tục 20 năm. Hiện tại, mỗi tháng chị xuất đều đặn từ 3
–5 công – ten - nơ, mỗi công - ten - nơ từ 12 –15 tấn mật đóng lọ. Ông
chủ mua mật của chị cho biết: Người Mỹ có thói quen ăn mật ong hàng
ngày, mật ong có trong khẩu phần ăn. Trẻ em đến trường, thức ăn kèm
bánh mỳ đều có bơ và mật ong. Các loại đồ ăn thức uống đều có mật ong:
gà quay mật ong, bánh ngọt mật ong, nước uống pha mật ong, trà đen uống
với chanh pha mật ong… ông Chad Akhavan rất quý trọng bà Dình – một
người khách bán hàng không lịch sang trọng nhưng đầy ấn tượng của Việt
Nam. Bước đầu, chị đã thành công ở một thị trường ngặt nghèo về
tiêu chí. Suốt một ngày làm việc với ông chủ Mỹ mua mật, ông thực sự
bất ngờ trước một phụ nữ tầm thước, không son phấn, không trang sức đắt
tiền. Bà chẳng khác gì những phụ nữ nuôi ong mà ông đã từng gặp ở xứ
vải Hưng Yên, Lục Ngạn Bắc Giang. Bản chất mộc mạc, chân quê của một
người xuất thân từ nông thôn, học đại học xong cũng chỉ để làm nông
nghiệp. Ông người Mỹ nói: Bà thực sự là con ong. Một con ong đưa mật
Việt sang Mỹ. Ông Chad Akhavan vẫn còn hy vọng ở chị rất nhiều…! Mới ngoài năm mươi tuổi, nhưng chị có một tổ ấm thật sự là niềm mơ ước
của nhiều bạn bè. Cả 4 đứa con của chị đều học giỏi ở các trường đại
học có danh tiếng ở Hà Nội. Ba cháu gái đã làm việc ở những công ty
hàng đầu của Việt Nam, chị Dình đã là bà ngoại. Kể về quá khứ và ngay
cả những ngày hiện tại chị rơm rớm nước mắt: Mấy chục năm lấy chồng là
gần hết ngần ấy năm xa cách. Thời trẻ phải xa cách hàng ngàn cây số.
Khi tuổi đã xế chiều, làm ông làm bà, thì chồng chị vẫn tiếp tục xa.
Hiện tại, chồng chị vẫn đi làm chuyên gia nông nghiệp ở tận Châu Phi.
Xa chồng vò võ, khó khăn đủ thứ, chị vừa làm mẹ vừa làm bố dạy bảo các
con để được thành đạt như hôm nay. Ngần ấy năm lấy chồng, chị đâu
có được nhờ chồng nhiều, nhưng với phận làm dâu, tuy là gái miền Trung
ra làm dâu đất Bắc nhưng bên chồng được tiếng thơm nhờ cô dâu hiếu
thảo, sinh con “có nếp, có tẻ” nối dõi tông đường, đảm việc nhà, giỏi
việc công, sống hoà thuận. Các con học hành, công tác ở Hà Nội
nhưng hàng năm chị vẫn tổ chức cho bọn trẻ về thăm hai quê nội, ngoại.
Mỗi lần chúng từ quê trở về, chị cảm thấy các con lớn khôn hơn, cảm
thông chia sẻ người nghèo hơn. Những lần về Quảng Bình gặp lại đám bạn
học thuở thiếu thời đã có hơn 40 năm lẻ trôi qua, có người mượn thơ đọc
tặng chị: “Dẫu biết theo chồng thân phận gái Đường về quê mẹ vẫn không quên” Thành đạt, nhưng theo chị phải “có cội, có nguồn” là vậy./.
Thế Nguyễn - Doanh nhân việt nam xưa & nay |