|
GANG SẮT "ĐÚC” TRƯỜNG THÀNH
Ở tuổi “thất thập cổ lai hy”, người đàn ông đó vẫn miệt mài làm
việc, vẫn bận rộn khi thì xuống xưởng dưới HảI Phòng, lúc lại rong ruổi
trên “căn nhà lưu động” hết tỉnh này đến tỉnh khác. Chẳng ai ngờ rằng,
anh thương binh “tàn nhưng không phế” Trần Mạnh Lưu ngày nào giờ đã là
ông chủ Công ty TNHH Cơ khí đúc Trường Thành. Không chỉ nổi tiếng khắp
mọi miền đất nước, cái tên Trường Thành cùng ông chủ Lưu còn vang danh
tại hơn chục nước trên thế giới với các sản phẩm gang đúc. Nhưng ít
người biết rằng, đường tới vinh quang hôm nay của ông lại phải trải qua
nhiều chông gai đến thế. Nhiều lần trắng tay, nhưng bằng nghị lực phi
thường của người lính năm xưa, ông đã vượt qua tất cả. Từ những phế
liệu của xã hội ông đã “đúc” Trường Thành không chỉ trở thành biểu
trưng vững chãi của Thành Nam mà còn tượng trưng cho sự phát triển bền
vững của một thương hiệu Việt trên trường quốc tế.
Những năm tháng khó quên
Ông sinh năm 1930 tại xã Bồ Đề – huyện Bình Lục – Tỉnh Hà Nam trong
một gia đình thuần nông. Người dân quê ông chủ yếu sống bằng nghề nông,
quanh năm chỉ có một vụ nên nghèo lắm. Làm lụng vất vả cả ngày mà cũng
chẳng đủ ăn vì sưu cao, thuế nặng. Sống trong cảnh cơ cực dưới sự bóc
lột tàn bạo của bọn cường hào, ác bá, thực dân nên ngay từ khi còn rất
nhỏ ông vẫn thường chứng kiến cảnh người dân vốn thật thà, hiền lành là
vậy nhưng đã phải vùng lên biểu tình ngày càng quyết liệt. Làng quê
nghèo, lại chịu nhiều áp bức đã không giữ nổi chân ông. Bỏ làng ra Hải
Phòng kiếm sống, ông lang thang làm đủ thứ nghề: đi ở cho nhà địa chủ,
lớn thêm một chút thì làm phu xe, khuân vác, chèo thuyền thuê cho các
chủ thuyền đinh… Đang sức trai trẻ, với thân hình cao lớn, ông chẳng nề
hà việc gì, ngày ngày lao động cựt lực, vậy mà vẫn không kiếm đủ hai
bữa cơm ăn. Những đêm đông lạnh giá, ngồi co ro trước những cơn gió bấc
lạnh thấu xương và cái bụng lép kẹp, ông cứ ngỡ mình sẽ chết dần, chết
mòn nơi đất khách quê người trong xã hội loạn lạc ấy. Chẳng biết tự bao
giờ, lòng căm thù quân cướp nước đã thấm vào máu thịt ông, lớn dần theo
năm tháng. Thời cơ tốt để trả thù quân giặc đã tới khi đội quân của
Tưởng Giới Thạch thuê ông chở thuyền vũ khí mà bọn chúng cướp được của
quân đội Nhật từ Thuỷ Nguyên về Cảng Hải Phòng. Ngày ấy, ông chưa đầy
20 tuổi, nhưng đầy táo bạo và dũng cảm khi quyết định thay bằng chở
thuê theo địa điểm đã được chỉ định, ông bí mật tìm cán bộ Việt Minh và
giao hết số vũ khí đó cho chính quyền Cách mạng ở Hải Phòng. Ông sớm
hiểu hậu quả khó lường nếu việc bị bại lộ, nhưng cũng không thể vì thế
mà chở vũ khí tiếp tay cho địch tàn sát đồng bào mình. Trong lúc Cách
mạng Hải Phòng còn non trẻ, thiếu thốn đủ thứ, cả một Đại đội vệ quốc
đoàn chỉ có vài ba khẩu súng Mút – cơ- tông thì thuyền vũ khí mà ông
giao cho đủ để tạo thành sức mạnh phi thường cho lực lượng vũ trang tại
thời điểm lúc bấy giờ. Sau vụ này, quân Tưởng Giới Thạch điên cuồng tìm
người chở thuyền vũ khí để tiêu diệt. Tính mạng ông bị đe doạ khắp mọi
nơi buộc ông phải trốn biệt về quê hương, nương nhờ người thân. Năm
1947, toàn quốc dấy lên phong trào kháng chiến chống Pháp, ông là một
trong những thanh niên tiên phong lên đường tòng quân vào đơn vị vệ
quốc đoàn đầu tiên của tỉnh Hà Nam. Dũng cảm xông pha nơi trận mạc, 3
lần ông bị thương. Lần cuối cùng, ông bị gãy đùi và không đủ sức chiến
đấu nên được đưa về địa phương phục hồi.
Long đong buổi đầu lập nghiệp
Trở thành thương binh xuất ngũ với hai bàn tay trắng và “gánh” thêm
vợ con không kế sinh nhai, nhưng ông luôn nghĩ “còn hai bàn tay là còn
tất cả”. Không chịu lùi bước trước thực tế khó khăn, thấm nhuần lời dạy
của Bác “thương binh tàn nhưng không phế”, ông quyết tìm hướng đi riêng
cho mình. Năm 1966, ông đứng ra thành lập Hợp tác xã Hừng Sáng (Yên Phú
- ý Yên – Hà Nam) thu hút khoảng 300 lao động bằng nghề đan thảm ngô,
thảm cói xuất khẩu từ nguyên liệu sẵn có của địa phương. Không chỉ giúp
mình thoát khỏi đói nghèo mà ông còn giúp hàng trăm gia đình địa phương
có việc làm, thậm chí có người đã có tiền xây nhà ngói. Nhưng ở thời
đó, kinh tế cá thể chưa được nhìn nhận đúng nên Hợp tác xã hoạt động
chừng hai năm, ông bị đưa ra toà bị gán là “tư sản”. Nhà cửa, tài sản
đều bị tịch thu hết. Bỗng chốc, ông lại trở thành trắng tay. Day dứt
với ý nghĩ không thể là gánh nặng cho gia đình, ông quyết tâm gây dựng
lại từ đầu. Ông chuyển đủ thứ nghề để sống, miễn sao đó là nghề lương
thiện và có thể phụ giúp gia đình. Là thương binh hạng 4/4 nhưng ông
chấp nhận ngay cả với những công việc nặng nhọc, tốn nhiều công sức
như: bốc vác, đánh xe bò... Cùng với người vợ tảo tần sớm hôm bán rau
khắp các chợ gần xa, cả gia đình ông gắng lắm cũng chỉ đủ sống qua
ngày. Tình cờ ông chuyển sang nghề “đồng nát”: chuyên mua bán sắt thép
phế liệu rồi bán lại cho những nơi có nhu cầu. Đầu đội mũ lá, chân đi
dép lê, gò lưng trên chiếc xe đạp không chuông, không dâyvới hai cái
sọt thồ to đùng phía sau, ông len lỏi khắp các ngõ ngách. Những ngày hè
nắng gắt, mồ hôi ướt đẫm áo hay những hôm rét như cắt da, cắt thịt
nhưng ông vẫn miệt mài thu lượm phế liệu góp phần làm sạch môi trường,
tránh lãng phí và cải thiện cuộc sống gia đình. Rồi vô tình ông gặp
những người bạn là thương binh và con em gia đình liệt sỹ cùng cảnh
buôn đồng nát với mình. Đồng cảnh ngộ nên họ dễ cảm thông và chia sẻ.
Ông mạnh dạn đề xuất và được mọi người chung sức, chung lòng thành lập
Tổ thu mua sắt thép phế liệu rồi chủ động tổ chức vận chuyển lên khu
Gang thép Thái Nguyên đổi lấy sắt xây dựng về bán lại phục vụ nhu cầu
địa phương. Đầu những năm 1980, đúng lúc khu Gang thép Thái Nguyên đang
“đói” nguyên liệu nên nguyện vọng “hàng đổi hàng” từ tổ thu mua sắt
thép phế liệu của ông và bạn bè được coi là “cứu cánh” hữu hiệu. Tính
trong vòng 4 năm (1982 – 1986) tổ hợp đó đã bán cho Gang thép Thái
Nguyên trên 3.000 tấn phế liệu. Không dừng lại ở đó, ông sớm nhận ra
nhu cầu sử dụng sắt thép trong nhân dân cho các công trình sửa chữa và
xây mới ngày càng tăng trong khi từ phế liệu có thể tái chế thành sản
phẩm có thể sử dụng tiếp mà vẫn đảm bảo chất lượng. Mong muốn biến tổ
thu mua phế liệu thành xưởng tái chế thành phẩm thép phù hợp với chính
sách khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế của nhà nước ngay
sau Đại hội Đảng VI. Ông mạnh dạn đề nghị Nhà máy Gang thép Thái Nguyên
giúp đỡ, xây dựng tại cơ sở một dây chuyền cán kéo thép tại Nam Định.
Tập hợp anh em cho đi học nghề ngắn ngày để sử dụng dây chuyền cán kéo
và nhanh chóng chuyển đổi mô hình hoạt động từ tổ thu mua sắt thép phế
liệu thành Hợp tác xã cán thép Trường Thành. Phát huy vai trò của người
chủ nhiệm Hợp tác xã, ông đã tập hợp được sức mạnh của tập thể từng
bước ổn định sản xuất và cho ra đời hàng nghìn tấn thép xây dựng đáp
ứng nhu cầu của địa phương. Mặc dù cố gắng tìm mọi cách để đứng vững
trước sự cạnh tranh gay gắt của thị trường, nhưng sản phẩm sắt thép của
Hợp tác xã có nhiều hạn chế cả về chất lượng và giá cả nên không ngờ
sau 5 năm Hợp tác xã rơi vào hoàn cảnh trớ trêu: hàng hoá ế ẩm, xã viên
không có lương và ông không khỏi thất vọng trước không khí chán nản bao
trùm cả Hợp tác xã vốn cách đây không lâu luôn ồn ào, rộn rã người vào
ra và leng keng tiếng sắt va vào nhau. Ông lại bươn bả, ngược xuôi tìm
lối thoát. Mọi người lần lượt bỏ đi ngay cả những người kiên nhẫn nhất
cũng lặng lẽ tạm biệt ông để lại chiếc lò đúc thép cũ kỹ và ông chủ
nhiệm Trần Mạnh Lưu với “trăm mối tơ vò”.
Từ “Sắt” tới “Gang” Trường Thành
Ở cái tuổi ngoài 60, lại có chế độ đãi ngộ thương tật hàng tháng,
con cái đã trưởng thành ông có thể buông xuôi mà nghỉ ngơi, an hưởng
tuổi già. Nhưng ngần ấy năm ngược xuôi, lại “ngấm” vào máu sự năng động
và ước muốn được vươn lên trước sự đào thải nghiệt ngã, trước những
thời cơ và thách thức nơi thương trường đã khiến người lính ấy quyết
“không chịu đầu hàng”. Nhưng, nếu tiếp tục thì phải bắt đầu từ đâu? Sản
xuất sản phẩm gì? là câu hỏi khiến ông nhiều đêm thao thức. Ông nhớ
những ngày còn rong ruổi trên “con ngựa sắt” trôi dạt tới Mỹ Đồng (Thuỷ
Nguyên – Hải Phòng) ông đã có dịp tiếp cận nghề đúc truyền thống của
người dân vùng đó. Thất bại trong nghề cán tút thép làm ông nảy sinh
chuyển hướng sang nghề đúc. Có điều ông không muốn sản xuất những sản
phẩm giống như ở các làng nghề truyền thống. Sau nhiều ngày đắn đo, cân
nhắc ông quyết định thành lập Doanh nghiệp tư nhân Trường Thành trên cơ
sở bàn bạc thống nhất, huy động sự ủng hộ của mọi người trong nhà cả về
vật chất lẫn tinh thần. Tháng 6 năm 1992, Doanh nghiệp tư nhân Trường
Thành do ông Trần Mạnh Lưu làm Giám đốc đã chính thức ra đời. Thời điểm
đó có một số kỹ sư, công nhân có nghề đúc của nhà máy cơ khí nghỉ chế
độ. Ông Lưu may mắn chớp đúng thời cơ, mời anh em về “một cục 176” hợp
tác với doanh nghiệp. Chỉ trong một thời gian ngắn, Trường Thành đã thu
hút tới 35 kỹ sư, thợ bậc 7/7 cùng đủ loại thợ khuôn, mẫu, đúc đều có
tay nghề cao và mong muốn tiếp tục làm việc. Ông tin tưởng vào đội ngũ
thợ lành nghề trong tay, nhưng lại e ngại vì trình độ còn hạn chế của
bản thân, nhất là khi ông lựa chọn mục tiêu 100% sản phẩm xuất khẩu.
Đối với sản xuất trong nước đã khó, làm hàng xuất khẩu còn khó hơn
nhiều.Vấn đề về thị trường, hiểu biết về luật pháp các nước, nguyên tắc
xuất khẩu, nguyên tắc quản lý… đòi hỏi người Giám đốc phải hiểu biết để
có những quyết sách hợp lý, chính xác và hoạch định phương hướng vững
vàng cho tương lai, tránh những rủi ro không đáng có. Tháng 11 năm
1993, khi sản xuất đã phát triển ổn định từ doanh nghiệp tư nhân chuyển
lên thành Công ty TNHH Cơ khí đúc Trường Thành thì đòi hỏi năng lực của
cán bộ lãnh đạo tương xứng càng trở nên bức thiết. Không ngại tuổi cao,
không dấu dốt, ông tự tìm đến những giám đốc, kỹ sư giỏi để học hỏi;
tranh thủ đọc tài liệu nghiên cứu, sẵn sàng nhờ người khác giải thích
những nội dung chưa sáng tỏ. Ông học mọi lúc, mọi nơi theo phương châm
“cần cái gì, bổ sung cái đó” nên dần dần trong ông đã có một hệ thống
kiến thức khá toàn diện phục vụ đắc lực cho những chiến lược, sách lược
mang tính quyết định sau này. Dưới sự chỉ đạo của giám đốc Lưu, Trường
Thành đã có những bước tiến táo bạo. Ban đầu, Công ty chỉ dừng ở việc
đúc gang nguyên liệu xuất khẩu. Trong khi các nhà máy đúc gang của Nhà
nước có nhiều ưu thế hơn về cơ vật chất, thiết bị... nhưng lại thiếu
việc làm, còn Trường Thành chỉ là một cơ sở sản xuất nhỏ bé nhưng vẫn
ung dung sản xuất, nhiều lúc phải huy động thêm lực lượng bên ngoài mới
kịp tiến độ. Có được lợi thế đó là do ông đã linh hoạt áp dụng hàng
loạt các biện pháp trong sản xuất và kinh doanh, không ngừng nâng cao
chất lượng, xây dựng bộ máy gọn nhẹ, hiệu quả, chọn đối tác bán hàng có
khả năng thu hồi vốn nhanh… Sau 3 năm khi đã có chút lưng vốn,
trình độ kỹ thuật, trình độ quản lý cũng từng bước được nâng lên, cùng
với tinh thần tiến công của người lính cụ Hồ năm xưa, người “thương
binh tàn nhưng không phế” Trần Mạnh Lưu đã bứt phá vượt lên, mạnh dạn
đưa Trường Thành tiến thêm một bước khi chuyển hướng sang sản xuất các
mặt hàng gang xuất khẩu. Thời kỳ đầu còn bỡ ngỡ với thị trường xuất
khẩu lại chưa có thương hiệu nên ông đã chọn phương thức nhận gia công,
hoặc xuất khẩu uỷ thác qua Tổng công ty thép. Đơn hàng đầu tiên chỉ là
các các quả gang đối trọng loại 30 – 40kg xuất khẩu sang Nhật. Từ mặt
hàng đúc, Tổng Công ty Thép lại chuyển tiếp cho Trường Thành mẫu bếp
nướng ngoài trời bằng gang, sắt mà phía Đức đặt hàng. Tôn chỉ mục tiêu
đảm bảo theo đúng yêu cầu của khách đã giúp Trường Thành tạo thêm uy
tín. Các đối tác tin tưởng đánh giá cao Trường Thành và quyết định ký
hợp đồng trực tiếp với Công ty. Khách hàng đặt tiếp tới hàng chục ngàn
bếp nướng với yêu cầu giao hàng sau 5 ngày. Nhiều người không tin ông
có thể làm nổi, nhưng ông kiên quyết sẽ giao hàng đúng hẹn. Đó vừa là
thách thức vừa là cơ hội mà ông tin mình có thể vượt qua. Ông huy động
công nhân từ Hải Phòng đến Nam Định và các đơn vị vê tinh làm ngày làm
đêm và khuyến khích tăng lương gấp 3 lần ngày thường. Cuối cùng vẫn đảm
bảo tiến độ trong tiếng vỗ tay thán phục của mọi người. Không chỉ thành
công với sản phẩm này, Trường Thành còn tiến dài với các sản phẩm ngày
càng đòi hỏi tính thẩm mỹ, sáng tạo cao như: ghế ngồi công viên có
khung bằng gang, nắp cống gang, chao đèn đường... Tính đến thời điểm
này, Trường Thành là công ty duy nhất ở Việt Nam chuyên sản xuất và mua
bán các loại bếp nướng, các sản phẩm gang đúc và sản phẩm làm bằng thép
lá có phủ bề mặt sơn tĩnh điện, sử dụng công nghệ hiện đại của Mỹ, Đức. Trường là phát triển dài lâu
Thành là thế đứng bền sâu với đời.
Trường Thành - sự dài lâu, bền sâu của một thương hiệu cơ khí đã trụ
vững, không ngừng phát triển tại Nam Định và vươn mình tới nhiều quốc
gia trên thế giới. Hơn 30 năm đã trôi qua, từ một tổ thu mua sắt phế
liệu, từ một Hợp tác xã cán thép của những “chiến binh” dũng cảm,
Trường Thành đã vượt qua bao thăng trầm của nền kinh tế đang trong thời
kỳ chuyển đổi, sự cạnh tranh khốc liệt của các quy luật kinh tế thị
trường, từng bước lớn mạnh thành một trong những doanh nghiệp sản xuất
hàng xuất khẩu điển hình. Không chỉ là mức doanh số đạt từ 5-7 triệu
USD hàng năm, đóng góp hàng tỷ đồng ngân sách địa phương, Trường Thành
đã mang lại việc làm và thu nhập ổn định cho hàng trăm lao động Nam
Định cùng hàng nghìn lao động ở khắp các cơ sở vệ tinh của ngành Quốc
Phòng, Hải Phòng, Hà Tây...; đặc biệt cũng chính từ nơi đây đang dần
khôi phục và phát triển nghề cơ khí truyền thống của đất Thành Nam, xây
dựng nền tảng vững trắc cho ngành công nghiệp địa phương. Cùng với thời
gian, cùng với “thế đứng bền sâu với đời”, Trường Thành còn là biểu
tượng minh chứng cho ý chí quật cường của người chiến sỹ cách mạng Việt
Nam Trần Mạnh Lưu, của những thương binh “tàn nhưng không phế”, của Trí
tuệ Việt trên bước đường hội nhập. Xứng đáng với những ghi nhận là
“Người thương binh giàu ý chí và nghị lực” của Chủ nước Trần Đức Lương,
với danh hiệu “Bàn tay vàng” và nhiều phần thưởng cao quý khác của Đảng
và Nhà nước, doanh nhân Trần Mạnh Lưu thực sự là một “Chân dung Bạch
Thái Bưởi” thế kỷ 21, một doanh nhân “Xưa nay hiếm” trở thành tấm gương
sáng trong cho lớp lớp thế hệ cháu con noi theo.
Hải Yến - Doanh nhân Việt Nam tiêu biểu |