|
THẾ VÕ VÀ THUẬT Y TRONG MỘT TRUYỆN THƠ HIỆN ĐẠI
Tôi vẫn thường băn khoăn: Tại sao lâu nay chúng ta không có những truyện thơ lục bát dài như Truyện Kiều của Nguyễn Du, Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu…Kết hợp với cả tả việc, tả người, tả tình, bộc bạch, đối thoại, tâm lý đủ cung bậc tình cảm, vui, buồn, mừng, giận, tiếng cười và tiếng khóc, lời mắng và lời than…trong một tác phẩm dài hàng nghìn câu như một cuộn chỉ lần mãi không hết mà vẫn mạch lạc và nhuần nhị… Thật chẳng khác gì thuốc Đông y có Quân Thần Tá Sứ, có hàn có nhiệt, có bổ có tả nhằm khu phòng trừ tà, tráng dương ích khí. Thật chẳng khác gì võ cổ truyền kết hợp các thủ hình quyền, chưởng, câu, kiếm, các bộ pháp: mã, hư, cung, đinh, phốc các cước pháp: đạp, đá, giẫm, quét, các thủ pháp chặt đẩy, kéo, quẳng và bóp, ấn…mà vẫn hài hòa, có phép tắc. Muốn thế thì phải quán xuyến yếu binh “Thủ nhãn thân pháp, tinh, thần, khí, lực” thông qua các phương thức ngoặt, tiến thoái và công thủ…tạo thành đường lối võ thuật cơ bản. Muốn võ thuật giỏi phải chăm luyện khí công, bởi vì “tại ngoại vi quyền, tại nội vi khí” (ở ngoài là quyền ở trong là khí). Đọc truyện thơ “Tình Quê” của tác giả am tường y thuật và võ thuật Nguyễn Hữu Khai tôi lại thấy anh đã vận dụng được tri thức và thủ pháp của nghề nghiệp vào thơ. Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Du còn là một kiếm hiệp, Nguyễn Đình Chiểu là một danh nhân Võ thuật, y thuật. Thời xưa có chung nguyên lý Dịch học âm dương ngũ hành, sinh khắc, cái đó cũng ảnh hưởng và tác động đến văn hóa nghệ thuật, góp phần vào thành công của Truyện Kiều, Lục Vân Tiên… Chính vì đã học tập được kỹ thuật của những người đi trước kết hợp với bản tính của mình, Nguyễn Hữu Khai đã hàm dương được tính trầm ẩn để tạo cho truyện thơ của mình “nhất khí quán hạ” (liền một hơi suốt từ trên xuống dưới). Đúng như trong lời nói đầu truyện thơ, nhà thơ Vũ Duy Thông đã có cảm tưởng “đọc được một hơi và càng đọc càng ưa”. Các nhà dược học đông y khi phân tích các thành phần của thuốc đều khẳng định rằng chúng chỉ có tinh và khí, tức là đưa chúng ta trở về khi thế giới và sức sống hàm chứa trong đó phương pháp yoga Ấn Độ và luyện khí công của Trung Quốc là nhằm tích lũy khí và vận hành khí. Nhà Mỹ học Tào Phi cho rằng: “Văn lấy khí làm chủ” cũng là điều khí, tức năng lượng sống của vũ trụ mà nhà văn hấp thu, tích lũy được rồi vận hành trên trang viết để tình cảm, tư tưởng thấm nhuần khí sinh tạo của vũ trụ. Sở dĩ có được sự “nhất khí” ấy vì tác giả đã bố cục cả truyện thơ bằng thế võ kín, liên hoàn không sơ hở. Việc tác giả để cho người đọc tưởng là Phổ đã hy sinh, nhưng sau đó lại để cho anh tái hiện như một tiếng đòn nghi binh, giương đông kích tây, nhưng kết vẫn hợp lý, gây được hiệu quả. Việc Phổ xung phong ra trận như một thế “Phượng hoàng chuyển dực” vì hợp với lòng người, cũng là cái kết có kèm theo kiểu truyền thuyết. Việc Trình nhường lại mối duyên cho Phổ cũng rất đẹp, rất đôn hậu đúng với đạo lý với ông bà ta từ xa xưa, tích chuyện thủy chung gương vỡ lại lành, thích điều tín nghĩa Châu về Hợp phố. Tác giả cũng theo đúng nguyên lý võ học. Học võ để hộ thân là chính chứ không nhằm tiêu diệt kẻ địch để nhận thua chịu phục, nên tác giả dựng nhân vật Tú để làm nổi bật tính cách của Hồng chứ không đẩy sâu anh về phía phản diện. Cũng như trong Đông y, có các vị thuốc đủ mọi tính năng, có trung hòa, có công phạt nhưng cuối cùng cũng nhằm y đức chữa bệnh cứu người. Như vậy, toàn chuyện là sự đấu tranh giữa những người tốt ít, tốt nhiều và quá tốt trong nội bộ nhân dân chứ không phải là sự đấu tranh một mất một còn giữa người tốt và người xấu, ta và địch (bọn địch ở đây chỉ được nhắc qua lời Phổ) tưởng chừng rất khó gây được hấp dẫn nhưng vẫn thu hút được người đọc do cái tình của người viết, cái éo le về cảnh ngộ và tâm lý của nhân vật. Cảnh vừa đủ để gợi tình, tô điểm cho việc. Bên cạnh những câu tả tình tứ như:
…Mây in mặt nước ngời ngời Tựa ai chải tóc ngồi nơi xa nhà Sóng bạc chuyển chiếc lược ngà Tóc dài, dài mãi dài xa chân trời Cũng có những câu mang tính khắc họa: Êm đềm sông Đáy lượn quanh Dập dìu thuyền nhún méo vành trăng thu Tả cảnh có những câu tường thuật rất mới mẻ nhưng vẫn gây được xúc động: …Lốc lịch mỗi xé mỗi trông Mỏng đi, dày lại thuyền không tới bờ * …Chẳng duyên nên nghĩa nên thân Lòng mây xin được luôn gần núi non Tả người tác giả không chú trọng tả dáng hình người mà thông qua độc thoại và đối thoại để tả tính cách nhân vật: Dù tôi kém đức kém tài Thuyền tôi, tôi lái, khiến ai vịn chèo Hãy đừng giở giọng eo sèo Ốc lê thân ốc, còn đèo thêm rêu Buông lời như chửi như trêu Hỏi ai, ai đã tốt đều hay chưa? Âu là tài đức dư thừa Cớ sao cầm gậy che mưa cho người! Cũng có những câu vẽ ra được tâm lý nhân vật: …Đành rằng ép có thể trôi Lại e vung hở thì nồi sống cơm Làm trai như một cái nơm Sông dài đồng rộng cá thơm thiếu gì! Những nét trên còn có thể là tâm lý muôn thuở, nhưng câu sau đây thì rõ ràng màu sắc hiện đại: … Trâu đen cắt cỏ cho trâu Trâu đỏ thì lấy gà đâu cho vừa? Cơm thường thì họ chẳng ưa Mà đến nỗi ấy cày bừa ra chi Làm lại quá tội làm đi, Mà giở chè chén rồi thì tính sao? Tiêu chuẩn có được là bao? Quá tay thì biết gọt bào thân ai? Có răng thì để răng nhai Không răng cứ lấy lợi mài cũng xong Có ý triết lý cũng được thể hiện một cách hồn nhiên: Bình vơi sẻ nước ắp đầy Cơm sôi giảm lửa, căng dây nới chùng Nhưng cũng có khi diễn tả những điều khúc mắc: …Ân nghĩa đành trải đôi nơi Tình đầu nối lại một đời một dây Tả việc khi có tinh tế: …Lời người nước lướt lá khoai Lời nhà xem cũng đọng vài giọt sương. Tả nội dung mang hàm súc tâm trạng sâu sắc, mang quyết tâm tuyệt đối hy sinh vì người. …Tình đời vắt nước tưới hoa Mong sao cho mẹ cùng cha vui lòng.
Truyện thơ “Tình quê” được diễn tả như những trận tỷ thí ác liệt, như diễn biến của những căn bệnh ngặt nghèo, rồi với tài cảm hóa với tài mát tay phục dược làm cho càng thêm đoàn kết gắn bó trong sáng tình đời và tôn vinh sức mạnh vô song, bất diệt của lương tri đạo đức. Tất cả những sự kiện ấy được thông qua thể thơ lục bát như hơi thở nhịp nhàng từ một tác giả đa năng.
Tháng 4/1999 - Hoài Anh (Cảm nghĩ khi đọc truyện thơ Tình quê của Nguyễn Hữu Khai NXB Thông tin, 1999)
|