|
NGHĨ VỀ THƠ, NGHĨ VỀ NGƯỜI
Do một lẽ tình cờ, tôi có trong tay bản thảo tập truyện thơ “Tình Quê” của Nguyễn Hữu Khai. Một Nguyễn Hữu Khai võ sư có hàng nghìn môn đệ, lừng danh trong giới giang hồ, từng vào sống ra chết khi khám tối, khi dưới rạch bùn sông “Hàm Tử” tôi đã biết. Một Nguyễn Hữu Khai lương y có đẳng cấp, Tổng Giám đốc Công ty Đông Nam dược Bảo Long, vài ba trăm công nhân, thuốc bán từng container, nổi tiếng trong, ngoài nước tôi cũng đã biết. Nhưng còn một Nguyễn Hữu Khai thơ thì hơi bất ngờ. Hoàn toàn không hiểu một thói quen cố hữu của các nhà thơ là rất lười đọc người khác và càng dè dặt hơn khi giới thiệu một tập thơ đầu tay. Khai bình thản đề nghị: “Anh viết cho em lời nói đầu tập thơ sắp in. Vài hôm nữa em xin” không một chút rào đón. Tôi mỉm cười ừ hữ định bụng rồi mọi chuyện cũng sẽ qua… Tập bản thảo để trên bàn tôi khá lâu. Đột ngột một ngày Hà Nội chớm đông. Mở cửa sổ nhìn ra, cây bàng trong khuôn viên đỏ bầm, lá rụng hối hả. Tôi lật vài trang đầu, lững thững đọc mấy dòng cuối cùng:
Thực tình nghèo vốn, giầu lòng Miệt mài kiếm chọn viết xong chuyện này Tạm vui trong lúc nghỉ tay Cùng người đồng cảnh giãi bày tâm tư Lời lẽ khi thiếu khi dư Khen, chê xin nhận, cũng như cho vàng!
Mấy câu thật thà mà sao cứ thấy nhoi nhói trong lòng. Thơ bây giờ thất tình giả, đau đớn giả, cô đơn giả bừa bộn, nghe lời nói thật là nhận ra ngay. Tôi lật lại trang đầu và bắt đầu đọc. May sao, đọc được một hơi và càng đọc càng ưa. …Xin đừng tìm ở đây một áng thơ trác tuyệt của người dày dặn với nghề. Không mảng miếng kỹ thuật tân kỳ, không những ý tưởng lóe sáng, đôi chỗ còn láng máng như tập giọng Truyện Kiều, đôi chỗ còn ép vần, đôi chỗ còn sai lỗi chính tả. Một truyện thơ với cốt truyện giản dị có thể tóm lược ngay được như mọi truyện Nôm khuyết danh Phạm Tải – Ngọc Hoa, Phan Trần, Tống Trân – Cúc Hoa ông bà ta xưa vẫn kể. Nhưng càng đọc “Tình Quê” càng cảm động. Ta như được trở về với một vùng quê chân chất, mộc mạc mà giàu tình nghĩa. Ta như sống lại thời ba bốn chục năm trước ta đã sống. Nơi ấy có nô nức ngày hội tòng quân, trai làng khai gian tuổi, cho đá vào túi quần mong đủ cân để nhập ngũ. Nơi ấy chàng trai ra trận, cô gái ở nhà chăm mẹ người yêu như phận dâu con. Nơi ấy Hợp tác xã kiến thiết đồng ruộng, khai hoang phục hóa dưới bàn tay chèo lái của người con gái Ba Đảm Đang. Nơi ấy có rất nhiều nước mắt mà không bi lụy, nhiều mối tình éo le, trắc trở kể cả nhường vợ chưa cưới cho bạn mà vẫn đằm thắm, trong sáng tình người. Truyện vừa mới ngày nào thôi mà cứ như là trong cổ tích, một thứ ngày xưa ngay trong hiện tại khiến ta day dứt, tiếc nuối. Đúng là đã có một ngày xưa như thế, Nguyễn Hữu Khai chỉ việc kể ra như thế với bạn về chính đời mình. Điều khiến tôi ngạc nhiên là sức mạnh nào đã giúp một con người từng bị tù tội, bị đày ải giữa đám người thú, bị chà đạp dưới bao bất công nhan nhản trong hầm giam, giữa rừng sâu, bến xe, quán chợ, gầm cầu mà vẫn gìn giữ được tình yêu trong sáng đến thế, vững chắc đến thế với cuộc sống, con người, đất nước để viết ra những chữ chan chứa yêu thương.
Người người lặng lẽ lắng nghe Tiểu sử liệt sỹ lòng se, dạ sầu Tiếng đọc nghèn nghẹn từng câu Câu trước chưa rõ, câu sau đã mờ Nỗi niềm lai láng, vật vờ Căm thù, thương xót rối tơ trong lòng * …Thường khi đánh bại quân thù Khểnh lưng trên chiếc võng dù ngắm trăng Gió reo như nhủ thầm rằng Thù chung đã trả, ở đằng sau ta… Vui cảnh lại nhớ quê nhà Nhìn núi lại nhớ mẹ già xa xôi * …Bóng rơm ấp ủ đàn gà Bếp tranh nhả khói la đà ngọn tre Tiếng ve ra rả gọi hè Dọc đường phượng vĩ đỏ hoe nắng tà.
Thực lòng, tôi muốn trích thêm nữa, không hẳn vì đó là những câu thơ hay mà bởi làm được những câu thơ hay đã khó, sống hay được còn khó gấp bội. Trong khi có nhiều người tự coi mình đức cao, đạo trọng, cũng từng cơm lính chiến trường, từng hết lời cám ơn những ngày gian khổ, bỗng làm bộ mặt rầu rĩ, ủ ê, tự khoác vào bộ áo hợp mốt thương vay khóc mướn cho một thời binh lửa thì “Tình quê” viết ra năm 1998 tại thành phố Hồ Chí Minh kể đúng những gì đã có, nói đúng những gì mình nghĩ. Có lẽ thơ là ở đấy chăng? Đọc thơ còn khó hơn làm thơ. Tôi đọc “Tình quê” với sự thích thú. Chính mình cũng bất ngờ, giống như được xem tranh của thiếu nhi, nghe chèo ở xã hoặc ngồi trước màn rối nước. Thô mộc đấy mà sao hồn nhiên, tươi tắn, thuần khiết như chính dân gian. Hãy gỡ bỏ cặp kính hành lâm ra, cái cặp kính khiến ta nhiều lúc khốn khổ vì nhìn đâu cũng thấy nhàm chán, tầm tầm, ta sẽ bắt gặp ở đây một thế giới của Thầy đồ có Lợn ăn lá dáy, Chú Tiểu, Thị Màu, Người về con nhện giăng mùng…ngộ nghĩnh mà thâm trầm. Thơ Nguyễn Hữu Khai rất giàu chất dân dã, nhất là khi anh thoát được sự kiềm tỏa của những bóng đại thụ. Tôi rất thích những câu thơ như thế này:
Chung tình, trọn nghĩa trước sau Quên mình đi để vì nhau mới là * Lời người nước lướt lá khoai Lời nhà xem cũng đọng vài giọt sương * Ngẫm mình đâu phải con tằm Mà rút hết ruột rồi nằm bó thân * Rơm cháy thi sáng với đèn Lưỡi lửa léo lắt liếm đen trôn nồi * Nếu thành vẫn vững như đồng Hỏi rằng: Nền sụt thành sông hỡi thành? * Đành rằng ép có thể trôi Lại e vung hở thì nồi sống cơm * Gà gáy đâu phải đã to Mà thấy trời sáng tưởng do tiếng mình * Có răng thì để răng nhai Không răng thì lấy lợi mài cũng xong. * Chẳng duyên nên nghĩa nên thân Lòng mây xin được luôn gần núi non * Lòng ấy muốn giữ một màu Thì đừng nên để dồn đau lòng mày
Ca dao, dân ca phôi thai từ đấy chứ đâu? Vào lúc tôi viết những dòng này, Khai đang tất tả ở Bangkok để viết bài cho một tờ báo về Á Vận Hội thể thao lần thứ 13. Anh bạn này đến lạ, cái gì cũng đam mê, từ bắt mạch, kê đơn, châm cứu, múa võ trường đao, đoản kiếm, khai phá đồn điền, kinh doanh sản xuất, viết văn, viết báo và…làm thơ. Lạ hơn nữa, không việc nào Khai không vắt kiệt sức mình, không hết lòng. Người thế thì lận đận là phải, đèo bòng đa mang chữ tình là phải. Còn với thơ, tôi xin lấy một đời nghề của mình để nói rằng anh chẳng thể sống bằng danh tiếng và tiền bạc từ thơ đâu, nhưng thiếu những người như anh thơ sẽ buồn tẻ đi nhiều lắm. Tháng 12 năm 1998
Nhà thơ Vũ Duy Thông
|