|
“NHÀ KHOA HỌC” CỦA NÔNG DÂN
Dù rằng chưa được một Hội đồng Khoa học Nhà nước công nhận chức
danh, nhưng suốt 20 năm say mê sáng tạo, tìm ra nhiều giải pháp kỹ
thuật trong lĩnh vực nông nghiệp, Nguyễn Anh Kết đã đem đến cho nông
dân Việt Nam những sản phẩm hiệu quả thiết thực phục vụ sản xuất. Với
đầy “Trăn trở nỗi lo, chia sẻ rủi ro cùng nhà nông”, từ những chiếc máy
xay xát bằng ru lô cao su, máy tuốt, máy cày... đến các sản phẩm hữu cơ
sinh học bón cho cây trồng trong điều kiện tự nhiên khắc nghiệt đều
được bắt nguồn từ sự sáng tạo, lòng đam mê và ý chí theo đuổi mục tiêu
đến cùng của người đã có nhiều “duyên nợ” với nhà nông này. Năm 2005,
trong vai trò là người đứng đầu Công ty cổ phần Thanh Hà đồng thời là
chủ nhiệm đề tài khoa học, Giám đốc Nguyễn Anh Kết không chỉ vinh dự
được nhận giải Nhất Sáng tạo khoa học kỹ thuật Việt Nam - ViFotec, mà
còn góp phần mở ra một hướng đi mới cho sự phát triển của thị trường
công nghệ Việt Nam nói chung, thị trường công nghệ sinh học nói riêng
phù hợp với lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế. Nhưng điều quý giá nhất
trong cuộc đời anh chính là danh hiệu “nhà khoa học” của nông dân mà bà
con yêu mến dành tặng con người cả đời lao động sáng tạo với ước muốn
“mong cho bà con nông dân bớt khổ”. Tuổi thơ khó nhọc Vừa “chân ướt chân ráo” trở về sau chuyến xuống giúp bà con nông dân
Xã An Ninh – huyện Tiền Hải - Thái Bình cứu trên 100 ha lúa ngập úng,
anh lại bắt tay ngay vào hàng núi công việc dang dở. Anh kể lại: “23h
đêm mới đến nơi. Cả vùng lúa ngập trắng trong biển nước. Phải ra tay
ngay, mình làm mãi đến tận tối hôm sau mới xong, chậm một chút sẽ mất
trắng”. Công việc của Giám đốc Công ty cổ phần Thanh Hà Nguyễn Anh Kết
là thế đó. Bất kỳ lúc nào, không quản khắc nghiệt của thời tiết hay lúc
nửa đêm, khi người dân cần gọi đến là anh lập tức lên đường. Vốn
sinh ra trong một gia đình thuần nông nên hơn ai hết anh hiểu nỗi khổ
của người dân “chỉ biết trông vào cây lúa”. Tuổi thơ của những đứa trẻ
sinh ra ở nông thôn những năm sau ngày độc lập còn nhiều vất vả. Hoàn
cảnh của anh lại vất vả gấp bội phần. Người mẹ sinh ra anh sớm ra đi
khi anh còn quá nhỏ để lại sau lưng là người chồng với 5 đứa con thơ.
Thương các con thiệt thòi vắng mẹ, bố anh quyết ở vậy nuôi các con khôn
lớn. Cuộc sống của mấy bố con phải cậy nhờ vào cây lúa. Làm lụng cả
ngày, vậy mà vẫn chẳng đủ ăn. Có điều thật lạ, ông cụ thân sinh luôn
mong muốn các con nên người do vậy dù khó khăn đến đâu vẫn cố gắng để
tất cả các con đều được học hành chu đáo. Bận rộn cả ngày, mãi tới 23h
đêm mới được cầm sách, người mệt rã rời, dưới ánh đèn dầu leo lắt mấy
chị em phải cố gắng căng mắt ngăn cơn buồn ngủ lại, tập trung làm bài
cho kịp sáng mai tới lớp. Được cái chăm học lại sáng dạ nên cả 5 người
đều học giỏi, riêng anh đặc biệt say mê với những môn tự nhiên. Kỷ niệm
tuổi thơ trong anh còn là những trận đòn roi hầu như ngày nào cũng có
từ những nghịch ngợm, phá phách nhưng đầy tính sáng tạo. Không thể đếm
được bao nhiêu lần anh phải xay lúa vào các buổi chập tối, cũng là bấy
nhiêu lần anh mông lung với ý nghĩ “làm thế nào có thể giảm bớt công
việc nặng nhọc và hết sức thủ công này”. Đang học chuyên nghiệp, anh
đành gác lại để ra chiến trường theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc. Duyên nghiệp với nhà nông Chiến tranh đã đi qua, anh trở về lại tiếp tục theo đuổi con đường
học hành còn dang dở. Cuộc sống có quá nhiều đổi thay, theo quy luật
của thời gian, anh xây dựng gia đình rồi bận bịu với cuộc sống mới đầy
hối hả. Chỉ có nỗi cơ cực của nông dân thì chẳng thay đổi là bao. Vẫn
hình ảnh “con trâu đi trước cái cày theo sau”, công nghiệp hóa, hiện
đại hoá ở đâu chả rõ, chứ nông dân vẫn ngày ngày còng lưng “bán mặt cho
đất, bán lưng cho giời”. Thấu hiểu nỗi khổ của người dân nơi quê nghèo,
anh lặng lẽ quan sát, nghiên cứu với một niềm tin và lòng say mê bất
tận. Nhiều sáng kiến đã “ra hoa, kết trái” trong niềm hạnh phúc vô bờ
của anh và bà con nông dân Thanh Hoá. Năm 1982 là năm có nhiều kỷ niệm
đáng nhớ: cô con gái thứ hai của anh mới chào đời cũng là thời điểm anh
phát minh thành công sản phẩm máy xay xát gạo bằng ru lô cao su. Khi
sản xuất loại máy này, nhiều người chưa tận mắt nhìn thấy vẫn băn khoăn
không tin vào thành công của nó: làm sao mà thay thế được cái dần, cái
sàng nhỉ? Làm gì có chuyện đổ thóc vào là ra gạo trắng với cám riêng
không bị lẫn lộn như trước? Dạo đó hết hội thảo nọ đến hội thảo kia;
lúc trên Tỉnh, lúc dưới huyện bàn luận xôn xao về sự xuất hiện của máy
xay xát gạo bằng ru lô cao su. Không ít người tỏ ra khâm phục, có ý
hoan nghênh. Anh chỉ thấy buồn man mác cho cái gọi là “công nghiệp” ấy
cũng chẳng qua chỉ là một chút ứng dụng cơ giới hoá và nén tiếng thở
dài trong lòng với niềm trăn trở: “chẳng biết bao giờ bà con nông dân
mới hết khổ”. Chỉ bằng cách quan sát kỹ, phân tích nhanh, hiểu nguyên
lý cơ bản anh đã biết tận dụng những kiến thức đã học, vận dụng sáng
tạo thành những công cụ, dụng cụ có ích phục vụ bà con nông dân. Sau
máy xay xát gạo bằng ru lô cao su, các sản phẩm mới như: máy tuốt luá,
máy cày... lần lượt được anh cho “ra đời”, góp phần giảm bớt khó khăn,
nặng nhọc trong công việc nhà nông, nâng cao năng suất và tạo niềm tin
để bà con nông dân yên tâm gắn bó với đồng ruộng. Không chỉ phát
minh ra các dụng cụ, công cụ trực tiếp phục vụ nông nghiệp, Nguyễn Anh
Kết còn lăn lộn với đủ thứ nghề mà thời đó chưa ai dám làm hoặc ít
người nghiên cứu: từ làm xà phòng, trồng nấm, làm men, nấu bia…tới vận
tải. Với anh, nghề nào cũng xuất phát từ sự đam mê chinh phục những cái
mới, đòi hỏi có sự sáng tạo thậm chí chấp nhận mạo hiểm nhưng cũng đòi
hỏi phải có kiến thức nhất định. Anh tâm sự “Kiến thức như chân trời.
Càng đi càng không hiểu cái gì, phải đào sâu suy nghĩ tìm tài liệu
nghiên cứu”. Ví như chuyện anh chẳng học cơ khí, chế tạo nhưng vào
những năm đầu thập kỷ 80 Vụ Khoa học – Bộ Giao thông vận tải ký quyết
định cho phép Nguyễn Anh Kết được tổ chức đóng mới, hoán cải lắp ráp xe
vận tải nhỏ, xe ô tô từ 4 chỗ đến xe chở khách trên 30 chỗ nhằm đáp ứng
nhu cầu vận chuyển của con người trong thời kỳ kinh tế của đất nước còn
khó khăn. Để làm được điều đó, anh phải tự nghiên cứu không biết bao
nhiêu loại sách, thậm chí “nhẵn mặt” các cô văn thư ở thư viện. Là
người ham mê nghiên cứu, giàu sức sáng tạo, mặc dù kinh qua đủ thứ nghề
trong cuộc sống nhưng cái “nghiệp” gắn với sự phát triển của nhà nông
luôn đeo đẳng theo anh. Vô tình trên con đường nghiên cứu một số sản
phẩm phục vụ cho nông nghiệp đã đưa anh đến với Viện Khoa học tự nhiên
và công nghệ quốc gia. Anh được PGS.TSKH Phạm Gia Điền, TS. Trần Thị
Tâm Viện Thổ nhưỡng Nông Hoá đã tích cực giúp đỡ cùng với sự cộng tác
nhiệt tình của trung tâm, với mong muốn được tạo điều kiện và phát huy
khả năng nghiên cứu trong môi trường mới với những phương tiện hiện đại
nhằm tìm ra ngày càng nhiều sản phẩm có ích phục vụ cho sự phát triển
ngành nông nghiệp nước nhà. Nguyễn Anh Kết là một người dám nghĩ,
dám làm. Dù làm gì, ở đâu anh đều nêu cao tinh thần trách nhiệm và thực
sự dồn cả tâm lực vào đó. Không ai giỏi mọi thứ trên đời. Anh cũng vậy,
thiếu cái gì tự hoàn thiện cái đó chứ không bao giờ dấu dốt. Nhưng cái
tài của anh thể hiện ở chỗ biết phát huy thế mạnh của một Cử nhân ngoại
ngữ trong việc tìm kiếm và tận dụng tri thức của nhân loại phục vụ công
việc của một nhà nghiên cứu. Thành công của anh không chỉ là đơn thuần
là áp dụng theo lý thuyết, mà cao hơn đó là xuất phát từ những quan sát
tinh tế, những trải nghiệm từ cuộc sống và sự nhanh nhạy, khéo léo vận
dụng trí tuệ của nhân loại. Nhiều người ngạc nhiên khi thấy anh chỉ vì
cần một tài liệu nào đó, sẵn sàng “móc hầu bao” sang tận những nước xa
xôi tìm đến các trường đại học, gặp những vị giáo sư trao đổi, mượn tài
liệu mang về trong nước nghiên cứu. Vướng chỗ nào, chỉ bằng cách chủ
động tìm kiếm, tự mình bỏ những đồng tiền chắt chiu dành dụm ra mua tài
liệu thì mới quý, mới biết trân trọng. Xuất phát từ lòng đam mê,
ý chí vươn lên và tinh thần sáng tạo Nguyễn Anh Kết đã làm chủ khá
nhiều những công trình khoa học chất lượng. Dường như phần đó thuộc về
năng khiếu bẩm sinh thì phải, không phải ai học cũng thành tài. Cứ nghĩ
cả đời sẽ mãi làm anh nghiên cứu, không ngờ cuộc đời anh lại có lối rẽ
khác. Năm 1999, khi xem chương trình truyền hình trực tiếp, tận mắt
chứng kiến hậu quả nặng nề do cơn bão đổ vào miền Trung. Cả cánh đồng
mới cách đây vài hôm vẫn còn xanh rợp góc trời, giờ đây đã bị nhấn chìm
trong biển nước với một màu trắng xoá. Người dẫn chương trình Thanh Lâm
khóc, Bộ trưởng Bộ nông nghiệp phát triển nông thôn Lê Huy Ngọ cũng
không cầm được nước mắt, lúc đó anh nghẹn ngào nói không ra tiếng:
“đúng là người nông dân nghèo và khổ quá, có tí đất để sống mà bão lụt
thế này thì biết trông cậy vào đâu”. Trong anh bừng lên quyết tâm: Nhất
định mình phải làm gì đó cho người dân bớt khổ. Đột phá trong công nghệ sinh học Để mong ước sớm thành hiện thực, anh quyết định cùng mấy đồng nghiệp
có chung ý tưởng ra kinh doanh riêng. Với một người giỏi nhiều nghề như
anh thì không sợ chết đói, thậm chí có thể trở thành tỷ phú nếu lựa
chọn một công việc nào đó có lợi nhuận cao hơn gấp nhiều lần ngoài lĩnh
vực nông nghiệp. Nhưng giờ đây, tận mắt chứng kiến cảnh nông dân tiêu
điều sau cơn bão, anh biết con đường mình chọn là hoàn toàn đúng đắn.
Công ty cổ phần Thanh Hà đã chính thức ra đời từ những ý tưởng tốt đẹp
của những người sáng lập, đặc biệt là vai trò đầu tầu của Giám đốc
Nguyễn Anh Kết. Lúc mới ra lập nghiệp, trong anh luôn nhen nhóm một
niềm hy vọng lớn lên từng ngày: mình sẽ bắt đầu từ chính việc nghiên
cứu làm sao để cứu lúa khi gặp cảnh thiên nhiên khắc nghiệt. Bà con
nông dân mình vẫn phụ thuộc vào thiên nhiên nhiều quá: dọc theo chiều
dài đất nước, chỗ nào người nông dân cũng khổ. Vùng thì bị ngập lụt,
ngập úng, chua mặn; vùng thì bị giá rét, sương muối, hay hạn hán...
Người nông dân sớm hôm vất vả, vậy mà đành chấp nhận thiệt hại không gì
cứu vãn nổi. ở những nơi vùng cao hay vùng sâu, vùng xa thường khó đoán
biết sự thất thường của thời tiết trong khi người dân chủ yếu trông vào
nông nghiệp nên họ thường vất vả gấp bội phần. Đã có đích vươn tới
nhưng phải bắt đầu từ đâu là câu hỏi theo anh trong từng bữa ăn, giấc
ngủ. Thuận lợi lớn nhất của anh lúc đó là có một quá trình lâu dài gắn
bó với đồng ruộng, cộng với tính chịu khó quan sát, tìm tòi. Nhưng cái
khó với người đi đầu là chưa có tiền lệ, chưa có nhà khoa học nào đứng
ra nghiên cứu đề tài này. Miệt mài trong phòng thí nghiệm, hết nghiên
cứu lại thử nghiệm bằng lòng đam mê, sáng tạo kết hợp với các thành
phần hữu cơ, vô cơ, tổ hợp sinh học, cuối cùng chế phẩm sinh học K – H,
N- H, A- H với tác dụng tăng sức đề kháng cho cây trồng, chống lại sự
khắc nghiệt của thiên nhiên lần đầu tiên đã chính thức ra đời. Thành công này được coi là bước đột phá, không chỉ giúp các loại cây
trồng phục hồi, phát triển nhanh, mang lại hiệu quả kinh tế cao mà còn
góp phần ổn định sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp, giúp bà con yên
tâm và tin tưởng vào tiến bộ khoa học kỹ thuật, tiến tới bình ổn trong
xã hội. Am hiểu nhà nông, nên ngay từ khi hình thành ý tưởng đến khi
tạo được sản phẩm hoàn thiện, Nguyễn Anh Kết cùng các cộng sự luôn tính
đến yếu tố đơn giản, thuận tiện, dễ sử dụng giúp người nông dân nhanh
chóng tiếp thu, ứng dựng tiến bộ khoa học vào sản xuất. Trong một gói
hỗn hợp chứa các chế phẩm sinh học K - H, N – H, A– H (hay còn gọi là
các loại phân bón lá hữu cơ sinh học) bà con nông dân chỉ cần tuân theo
đúng tỷ lệ hướng dẫn in trên bao bì là có thể đạt được mục đích sử dụng
trong từng trường hợp cụ thể. Các loại phân bón lá sinh học này có thể
sử dụng trong việc chăm sóc bình thường hoặc trong một số trường hợp
đặc biệt như: hạn hán, giá rét, sương muối, chua mặn, ngập úng, ngập
lụt. Để chăm sóc bình thường, chỉ cần từ 8.000 đồng đến 12.000 đồng mỗi
vụ trên một sào Bắc Bộ, các loại phân bón lá sinh học này sẽ phát huy
tác dụng tăng sức đề kháng cho cây trồng, giảm từ 20 % đến 30% lượng
phân bón vô cơ khác, nâng cao chất lượng và sản lượng cây trồng. Đối
với cây trồng trong các trường hợp cần phải “điều trị”, đặc biệt khi
gặp điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt như: chua mặn, ngập lụt, ngập úng
cần chi phí trung bình khoảng hơn 20.000 đồng trên một sào Bắc Bộ cho 3
lần phun; trường hợp giá rét, hạn hán hay sương muối chỉ cần 2.000 đồng
trên một sào Bắc Bộ cho mỗi lần “điều trị”. Không phải ngẫu nhiên mà bà
con gọi các loại phân bón lá sinh học là “thần dược” của các loại cây
trồng. Vụ mùa năm 2005, chắc hẳn bà con nông dân xã Nam Cường, Nam
Trực, Nam Định vẫn còn nhớ phép màu đã xuất hiện trên những ruộng lúa
bị chua mặn. Tại những thửa ruộng này, cây lúa chẳng những không phát
triển bình thường mà còn bị tàn lụi dần, có nguy cơ mất trắng. Một số
bà con nông dân đã làm đơn xin trả ruộng không cấy, hơn 43 ha lúa mùa
đang đứng trước nguy cơ giảm năng suất do nhiễm phèn. Nhưng chỉ sau
chừng 10 ngày phun chế phẩm sinh học K-H, nhiều người không tin vào mắt
mình khi nhìn thấy màu xanh tươi tốt đang phủ đầy ruộng lúa như có phép
màu nhiệm diệu kỳ. Ngạc nhiên hơn khi thu hoạch những ruộng lúa này cho
nâng suất bình quân 80- 120 kg trên một sào trong khi những ruộng lúa
đối chứng không sử dụng sản phẩm có sản lượng rất thấp. Thế là từ chỗ
xin trả ruộng không cấy, bà con phấn khởi nhận lại ruộng với niềm tin
“thần dược” sẽ giúp họ tăng sản lượng trong những mùa vụ kế tiếp. Đó
chỉ là một trong hàng trăm trường hợp thành công trong việc ứng dụng
các chế phẩm sinh học K-H mà công ty đã thực hiện trong suốt mấy năm
qua. Hàng chục ha lúa bị ngập nước mặn và ngập lụt ở xã Nghĩa Thắng,
hàng chục ha lúa bị ngập úng ở Thanh Hoá, đỏ lá ở Nghệ An đã phát triển
tốt và cho năng suất cao khi sử dụng loại phân bón lá sinh học.... Đặc
biệt, sản phẩm phân bón lá hữu cơ sinh học còn có thể ứng dụng để cây
thu hoạch trước vụ, trái vụ giúp bà con tăng thêm thu nhập, cải thiện
cuộc sống hàng ngày. Quan trọng hơn khi sử dụng phân bón lá sinh học
đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, giảm lượng thuốc bảo vệ thực vật,
chống ô nhiễm có tác dụng bảo vệ môi trường, cải tạo đất, cân bằng sinh
thái cho các loại sinh vật phù hợp với xu hướng phát triển nông nghiệp
sạch của toàn cầu trong thế kỷ 21. Tiếng lành đồn xa, nhiều nông
dân trên khắp mọi miền đã tin tưởng tìm đến với Công ty cổ phần Thanh
Hà. Năm 2004, Công ty vinh dự được nhận bằng khen của Bộ Nông nghiệp và
phát triển nông thôn cho “loại phân bón đặc chủng” này. Năm 2005, với
tư cách là chủ nhiệm đề tài “nghiên cứu sử dụng phân bón lá hữu cơ sinh
học K- H để giảm thiểu thiệt hại do thiên tai cho sản xuất nông
nghiệp”, anh và các cộng sự đã vinh dự được nhận giải Nhất Sáng tạo
khoa học kỹ thuật Việt Nam – VIFOTEC. Ham mê nghiên cứu, không màng
danh vọng nhưng giải thưởng đó lại có giá trị tinh thần rất lớn không
chỉ đối với riêng anh, với riêng Công ty cổ phần Thanh Hà mà còn tác
động đến tất cả những nhà nghiên cứu khoa học nói chung. Anh rất mừng
vì VIFOTEC là một sân chơi lớn có thể tập hợp được trí tuệ, khơi dậy
niềm đam mê nghiên cứu, phát huy tính sáng tạo, tính mới trong tất cả
các lĩnh vực từ mọi thành phần kinh tế còn tiềm ẩn trong hàng vạn, hàng
triệu con người Việt Nam. Không chỉ giương cao ngọn cờ trong nghiên cứu
cơ sở, Nguyễn Anh Kết còn là người tiên phong trong lĩnh vực công nghệ
sinh học còn khá mới mẻ của Việt Nam, mở ra con đường mới khơi dậy
những tài năng tiềm ẩn từng bước đóng góp sự phát triển thị trường công
nghệ Việt Nam phù hợp với xu thế phát triển của thế giới trước thềm hội
nhập, nhất là khi cánh cửa gia nhập WTO của Việt Nam đang tới gần. Một doanh nhân Tâm – Tài Tôi gọi anh là “Bạch Thái Bưởi” của thế kỷ 21 vì dám lao vào lĩnh
vực mà thiên hạ chưa làm. Anh chỉ mỉm cười im lặng. Không chỉ là người
khiêm tốn, không ngừng cố gắng học hỏi vươn lên, trong con người giám
đốc Nguyễn Anh Kết hội đủ cả hai chữ “Tâm và Tài”. Có điều nhận thấy
rất rõ ở anh sự hoà chung hai vai trò trong một con người đó là: “vừa
là nhà khoa học, lại vừa là nhà doanh nghiệp”. Liệu có bị mâu thuẫn?
Nhà khoa học đòi hỏi tính chính xác, sáng tạo nhưng bước tiến cần chậm,
vững chắc để tránh rủi ro khi ứng dụng trong thực tế. Điều đó mâu thuẫn
với làm doanh nghiệp phải nhanh nhạy nắm bắt cơ hội kinh doanh khi thời
cơ đến. Trong anh có cả hai tính cách sáng tạo, cẩn trọng của người làm
khoa học và linh hoạt, nhanh nhạy của người làm kinh doanh. Nhưng cả
hai tính cách đó không mâu thuẫn mà hỗ trợ nhau tạo nên những thành
công trong bước đường anh chọn bởi anh luôn xác định: cái gì dân cần,
cái gì có lợi cho người nông dân là anh làm. Đó là cái “Tâm” và cũng là
điều thành công nhất đối với doanh nhân Nguyễn Anh Kết trong cuộc đời
làm doanh nghiệp. Không thể phủ nhận cái tài của anh trong nghiên
cứu khoa học cũng như trong điều hành, phát triển doanh nghiệp. Trong
cách xây dựng và quản lý công ty Thanh Hà, chắt lọc những kinh nghiệm
từ thực tế, ngay từ ngày đầu mới hoạt động, Giám đốc Kết đã chủ động áp
dụng theo phương pháp quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000
nhằm hướng đội ngũ lao động thực hiện công việc một cách sáng tạo,
chuẩn mực và tạo ra sản phẩm chất lượng cao đáp ứng nhu cầu tiêu dùng.
Không chỉ xây dựng bộ máy gọn nhẹ, hoạt động có hiệu quả, các vấn đề
khác cũng thường xuyên được Công ty đầu tư, quan tâm như: mở rộng hệ
thống đại lý trải khắp các tỉnh thành, xây dựng website chuyên nghiệp,
mẫu mã sản phẩm đạt yếu tố thẩm mỹ và tiện dụng, hợp lý... Cùng với
chất lượng sản phẩm tốt, giá thành hợp túi tiền của nông dân, tuy mới
đi vào hoạt động chưa lâu nhưng Công ty Cổ phần Thanh Hà được bà con
nông dân trong khắp các vùng miền biết đến. Bên cạnh các sản phẩm sinh
học đóng vai trò chủ lực, Công ty Thanh Hà còn được biết đến với nhiều
sản phẩm dệt may, thuỷ sản, nông nghiệp... từng bước góp phần nâng cao
uy tín của Công ty trên thị trường trong và ngoài nước. Say sưa
trong khoa học, trăn trở cùng nông dân, miệt mài với doanh nghiệp nhưng
với một người trọng nghĩa như Nguyễn Anh Kết không khỏi day dứt, canh
cánh bên lòng tìm kiếm mộ phần người anh trai liệt sỹ. Nếu ai đã từng
quen biết anh, chắc hẳn còn nhắc mãi câu chuyện cảm động đến khó tin:
suốt 14 năm ròng rã chẳng quản bao ngăn cách quyết tìm bằng được mộ
anh. Trong anh luôn ẩn chứa một nỗi niềm thương nhớ người anh trai đã
nằm lại mãi mãi nơi chiến trường, nhất là khi cả mấy chị em trong gia
đình giờ đây đều thành đạt. Những đêm đông rét mướt, hay những hôm trời
mưa bão nằm ngủ trong căn phòng ấm áp, đầy đủ anh lại thương người anh
giờ không biết đang nằm ở đâu. Xem lại giấy báo tử chỉ ghi một dòng: hy
sinh tại chiến trường miền Nam, nhưng khi hỏi các bạn cùng chiến đấu
lại nói là hy sinh tại Quảng Trị. Chẳng quản đường xa, anh lặn lội tìm
khắp các nghĩa trang Quảng Trị mà không thấy tên người anh trai mình.
Là một người làm khoa học chẳng tin vào mấy trò “bói toán”. Nhưng khi
được mách tới những nơi có khả năng tìm được mộ liệt sỹ anh lập tức lên
đường. Câu chuyện anh kể thật cảm động, dường như tình cảm chân thành
của anh cũng làm lay động người đã khuất nên dù phải qua không biết bao
lần tìm kiếm, giúp sức của nhiều người mãi 14 năm sau anh mới được toại
nguyện. Bây giờ, anh vui lắm vì đã tìm được người anh sau bao năm xa
cách, được thắp nén nhang lặng người bên người thân mà kể chuyện đời,
chuyện làm khoa học, chuyện làm doanh nghiệp của mình. Để kể về
một đời người có lẽ không biết thế nào là đủ, nhất lại là những “hạt
giống” hiếm như anh. Cùng đóng góp cho khoa học, sẻ chia gánh nặng cùng
nông dân, dốc tâm cho kinh doanh, Giám đốc Nguyễn Anh Kết luôn mong
muốn và quyết tâm phát triển Thanh Hà thành một thương hiệu mạnh mang
tính cộng đồng trong ngành nông nghiệp Việt Nam. Suốt nhiều năm lặn lội
với những con lũ, vùng lụt, sương giá…, tìm tòi nghiên cứu trên từng
chi tiết máy, điều lớn lao mà “nhà khoa học” của nông dân mang đến
không chỉ là những sản phẩm hữu ích cho những cánh đồng được mùa, những
công cụ tiện ích… mà đã khơi thông sức sáng tạo khoa học, khẳng định
sức mạnh trí tuệ Việt Nam, khẳng định được bản chất truyền thống Doanh
nhân đất Việt là tự lực, tự cường, dám làm, dám chịu trách nhiệm… xây
dựng đất nước ngày càng giàu đẹp. Dù rằng chưa được một Hội đồng khoa
học nhà nước công nhận, cho dù đã có hàng chục giải thưởng dành riêng
cho thành quả nghiên cứu khoa học, kinh doanh nhưng điều anh luôn tự
hào đã phát huy, cống hiến tài năng của mình hiện thực những ước mong
nung nấu trong tâm.
Thu Hoài - Doanh nhân Việt Nam tiêu biểu
|