|
MỘT BÔNG SEN XỨ THANH
Cách đây hơn 20 năm, thời kỳ mà nền kinh tế nước ta chưa rũ hẳn
được cái cơ chế tập trung bao cấp – “xin – cho” thì ở cái tỉnh đất rộng
người đông, kinh tế còn eo hẹp lại “nở” ra được một nhà máy thuốc lá
sản xuất đầu lọc đầu tiên ở khu vực phía Bắc với nhãn hiệu Bông Sen. Sự
kiện này nhiều người còn hoài nghi, nhiều người cho là “ném tiền qua
cửa sổ” vv và vv… nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, cùng với những bao
thuốc lá, nhãn hiệu Bông Sen tỏa đi khắp các tỉnh thành, có mặt tại
hàng vạn đám cưới, hội nghị và mang lại một phần ngân sách không nhỏ
cho tỉnh Thanh Hóa, giải quyết được hàng chục nghìn người lao động dôi
dư, bao gia đình bớt lạnh lẽo trong nghèo túng… Và, “Xí nghiệp thuốc lá
Thanh Hóa” đã trở thành một hiện tượng, một đột phá trong xu hướng đổi
mới đất nước. Vậy người có công đầu “gây giống” cho “bông sen”… là ai? Cũng chỉ là một người bình thường như bao người khác biết yêu người,
yêu quê hương đất nước. Chỉ có khác là ông tìm ra lối thoát nhanh gọn
và đúng mực trước những éo le của hoàn cảnh và vượt qua chính mình. Ông sinh ra từ mảnh đất Hoằng Hóa, bên chiếc cầu Hàm Rồng lịch sử, cũng
như bao gia đình khác, lúc đó nhà ông nghèo lắm. Và, cái nghèo càng
nghèo hơn khi cụ thân sinh của ông qua đời lúc ông mới 4 tuổi, tuổi thơ
của ông, gắn liền với dòng sông Mã hiền hòa, nhưng, cái đói đã không
cho ông được ngắm nhìn dòng sông tuổi thơ này một cách lãng mạn. Mà ông
chỉ nhìn dòng sông cứ hỏi nó chảy về đâu, và cho đến ngày nào mình sẽ
được xuôi dòng đi đến một nơi nào đó để học, được làm việc và ăn no?
Ông kể: “lúc ấu thơ, mình luôn trốn các bạn để ra bờ sông ngồi một mình
và nhặt những hòn đất ném ra mặt sông. Hôm nay chưa ném được xa thì cứ
tập dần, tập dần để ném ra xa. Và lớn lên cũng vậy, rồi cả cuộc đời làm
công chức nhà nước, mình vẫn có ý nghĩ, hôm nay chưa thực hiện được dự
định thì phải tập, phải rèn để tìm ra cách thực hiện dự định của mình.
Lẽ đương nhiên ý định đó có ích cho cuộc đời”. Thế rồi, cuộc đời cứ
như mở ra cho ông những thử thách để ông từng bước đi tới. Do nhà
nghèo, đang học cấp 3, ông phải xin được đi học trường trung cấp mỏ vì
trường này không phải thi, lại được nuôi ăn học. Cho dù phải học ở
tít tận Cọc Năm – Quảng Ninh, nhưng với ý chí là học thật giỏi để có
nghề dễ xin việc làm, ông đã học hết mình và ông đã có được những kết
quả rất đáng tự hào. Và “công lao đèn sách” của ông cùng với quá trình
tu dưỡng rèn luyện đã được ghi nhận bằng việc ông là một trong số học
sinh hiếm hoi được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ khi ngồi
trên ghế nhà trường (1962). Lúc đó ông mới tròn 21 tuổi. Mãi sau này,
năm 1973 ông lại mới có điều kiện vào học Kinh tế lao động, Trường đại
học Kinh tế Quốc dân. Thế rồi, 3 năm sau vừa học vừa làm trên những
tầng than của vùng mỏ vàng đen của Tổ quốc bằng công sức, trí tuệ của
mình, ông trở về quê hương Thanh Hóa với một khát vọng làm được một
điều gì đó cho mảnh đất quê hương mình. Rồi bằng những việc làm đích
thực để thể hiện khá rõ khả năng và trình độ quản lý của mình, ông được
tỉnh tín nhiệm giao cho làm phó giám đốc Xí nghiệp than bùn Hậu Lộc,
sau đó làm phó giám đốc Nhà máy phốt phát Nam Phát. Từ thực tiễn cọ
xát, ông thấy mình còn phải học để đủ tri thức, trình độ quản lý cho
tốt “Mình không học thì nói sao được họ – như vậy thì xấu hổ lắm” - Ông
tâm sự về sự học của mình như vậy. Song bản lĩnh, chất sống của ông
cùng với “cái sự học” để có được một nhận thức đúng cho đường lối phát
triển kinh tế, quản lý kinh tế được ông bộc lộ rõ nét nhất khi được
giao trọng trách về làm giám đốc Nhà máy thuốc lá Thanh Hóa khi nơi này
chỉ là một cơ sở sản xuất thuốc lá không đầu lọc, cơ sở vật chất nghèo
nàn, thiết bị lạc hậu do được tận dụng từ những năm 60. Nhà máy thuốc
lá phát triển là cả một bài toán hóc búa không chỉ với lãnh đạo của
tỉnh mà cả với các đồng chí trên Trung ương. Ông kể lại: “Lúc mình
quyết định phải chuyển nhà máy về Hà Trung cũng là một sự bàn cãi rất
nhiều bởi vì Hà Trung lúc đó (năm 1977) sau chiến tranh vẫn còn là một
mảnh đất hoang, bom và phế liệu vẫn tràn đầy. Nhiều người không dám đến
gần chứ chưa nói đến để xây dựng nhà máy. Nhưng mình nhìn thấy rõ tương
lai của nhà máy sẽ phát triển từ đây bởi vì nơi đây có một địa điểm
thuận lợi: gần trung tâm kinh tế, gần sông, gần đường quốc lộ và tàu
hỏa. Hơn nữa, ở đây cũng sẽ là điểm có thể thu hút nguồn lao động dồi
dào gần vùng nguyên liệu. Do vậy mình vẫn quyết định xây dựng nhà máy
tại đây. Mình đã phải nhờ công binh dò mìn và chuyển đi hàng tháng
trời; phải đổ hàng vạn m3 cát vào các hố bom để lấy đất xây dựng nhà
máy. Nhưng xây nhà máy rồi không có vốn thì nhà máy có to đẹp đến đâu
cũng chỉ là vô nghĩa. Và bài toán muốn phát triển sản xuất là phải đổi
mới công nghệ và muốn vậy thì phải có vốn lớn. Đây là bài toán hóc búa
với mình cũng như toàn lãnh đạo nhà máy. Bởi vì lúc đó cơ chế chưa mở
như bây giờ. Vay vốn ngân hàng để sản xuất thuốc lá là chuyện viễn
tưởng. Nhưng cũng may bởi mối quan hệ và uy tín của mình, Ngân hàng
Ngoại thương Việt Nam đã đồng tình ủng hộ dự án nhập thiết bị công nghệ
sản xuất thuốc lá đầu lọc từ Tiệp Khắc (cũ) về cho chúng mình. Rồi
những cơn bĩ cực đã qua, hình hài của một nhà máy sản xuất thuốc lá
hiện đại đã hiện hữu. Những bao thuốc lá đầu lọc đầu tiên đã được ra lò
với tên gọi Bông Sen. Hôm đầu tiên cầm bao thuốc lá Bông Sen trên tay,
mắt mình nhòa đi dù rằng không muốn khóc. Nhìn màu trắng và màu đỏ của
bao thuốc lá mà mình cứ tưởng tượng như một đêm hội pháo hoa chúc mừng
cho nhà máy chúng mình. Và đây cũng là thời điểm để đánh dấu một bước
chuyển mình cho ngành công nghiệp Thanh Hóa nói riêng và ngành công
nghiệp thuốc lá Việt Nam nói chung vào thời điểm này”. Tôi hỏi ông:
“Vì sao sản phẩm đầy dấu ấn này lại được đặt tên là Bông Sen vì nếu nói
bông sen người ta thường nghĩ đến Đồng Tháp Mười?” Ông trả lời:
“Bông sen đã từ lâu thể hiện cho một sự tinh khiết và vượt qua “bùn
lầy” để dâng sắc, dâng hương cho cuộc đời. Chính biểu tượng này còn
nhắc nhở chúng tôi – những cán bộ công nhân viên Nhà máy thuốc lá Thanh
Hóa – phải biết vươn mình trước thực tại để làm những việc có ích cho
xã hội”. Ông kể tiếp: “Có thể nói trong những ngày đầu hân hoan
trong niềm vui thì lại đè nặng lên mình cũng như lãnh đạo nhà máy trách
nhiệm tìm đầu ra cho Bông Sen. Thế là mình lại lên đường bươn chải như
ngày nào. Mình đến từng hàng nước chè, từng cơ quan để chào hàng (mà
bây giờ gọi là tiếp thị). Lúc đó “gu” của người hút thuốc vẫn chỉ là
thuốc không đầu lọc: “Sông Cầu là đầu câu chuyện”. Mình phải năn nỉ họ
cho mình để lại thuốc lá mặc dù không lấy tiền. Thế rồi “gái có công,
chồng chẳng phụ”, thuốc lá Bông Sen đã đi vào cuộc sống, khẳng định
được thị trường. Nhà máy luôn ở tình trạng thiếu hàng, ô tô xếp hàng
dài để chờ lấy thuốc lá Bông Sen. Vào khoảng năm 1989 – 1990, nhà máy
đã nộp ngân sách 73 tỷ đồng. Có lần tỉnh thiếu tiền mặt trả lương cho
các cụ nghỉ hưu, mình đã huy động anh em thu tiền về, đưa cho tỉnh để
kịp thời trả lương hưu cho các cụ trong dịp Tết năm đó. Cũng từ lợi
nhuận, Nhà máy thuốc lá Thanh Hóa đã giúp đỡ huyện Hà Trung một phần
kinh phí để xây dựng bệnh viện, trường học, làm thay đổi đáng kể bộ mặt
của thị xã Hà Trung nói riêng và cả tỉnh Thanh Hóa nói chung. Nhiều gia
đình chính sách và hàng trăm Bà mẹ Việt Nam anh hùng đã được cán bộ nhà
máy chăm sóc ân cần”. Nghe anh kể, hình như công cuộc lập nghiệp
của anh cũng như sự nghiệp phát triển của Nhà máy thuốc lá Thanh Hóa có
vẻ cũng không cam go cho lắm, sức cạnh tranh thị trường cũng không gay
gắt như bây giờ? Ông lặng đi một lúc mới nói: “Nói vậy thôi, đã làm
quản lý kinh tế lãnh đạo một doanh nghiệp mà bây giờ được tôn vinh là
doanh nhân thì bất cứ ở một thời điểm nào cũng đều phải chấp nhận những
rủi ro và cũng cần những bản lĩnh để chấp nhận rủi ro đó. Anh có nghĩ
rằng tôi đã từng bị dư luận lên án vì đầu tư không đúng chỗ, rồi cũng
có lúc 2 – 3h sáng vẫn phải lang thang trên đường phố Hà Nội để chờ xin
một chữ ký. Rồi có những đêm tôi thức trắng, bạc cả tóc và mờ mắt lo
trả nợ đúng hạn như cú sốc vay 3,6 triệu USD năm 1989 để nhà máy có
thiết bị làm sợi. Lúc vay thì có cơ chế, lúc trả nợ thì không có cơ
chế. Có lúc mình đã phải trả tới 33 tỷ đồng tiền lãi cho ngân hàng một
năm. Rồi có hàng tháng trời vợ con không thể nhìn thấy mặt mình vì mình
đi suốt, lo đầu vào, đầu ra, quan hệ để phát triển”. Nhưng từ những
đêm trắng đó, từ những vất vả đó, ông luôn luôn nghĩ tới một ngày mai
đời sống của hàng nghìn công nhân viên, hàng nghìn hộ gia đình khác
cũng sẽ bớt đi những khó khăn đời thường, họ được ấm no , hạnh phúc.
Ông thường tâm sự: “Làm được một việc vất vả lắm chứ. Nhưng mình là
người hạnh phúc vì vất vả mà được việc. ở đời, khối người cũng lăn lộn,
lo toan, cũng hy sinh vất vả nhưng rồi kết quả thu lại chẳng được mấy
so với sức lực đã bỏ ra”. Ông bảo: “Mình dặn các cán bộ cũng như
các con của mình khi trưởng thành là phải luôn giữ chữ Tín và làm điều
thiện; làm việc không chỉ cho hôm nay mà còn cho nhiều năm tiếp nữa.
Việc thiện và chữ Tín cũng phải được giữ gìn cả đời”. Với uy tín,
trách nhiệm, khả năng của mình, ông đã được nhân dân tín nhiệm bầu vào
Quốc hội 2 khóa IX và X, ông là tỉnh ủy viên và tham dự Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ VII, thứ VIII… Ông đã được tặng thưởng nhiều huân,
huy chương và những phần thưởng cao quý khác… Nhưng có một phần thưởng
lớn nhất mà không phải ai cũng có được như ông đó là dù rằng lúc thành
đạt cũng như khi vấp ngã, mọi người luôn ở bên ông, sẻ chia với ông. Ông đã từ nghèo khó đi lên, giẫm lên những bùn lầy đời thường để cống
hiến cho đời. Tôi cũng như bao người nghĩ rằng, chính ông cũng là một
bông sen làm đẹp đất nước. Ông là Lê Viết Dược, nguyên đại biểu
Quốc hội khóa IX, khóa X, nguyên Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty Thuốc
lá Việt Nam, nguyên Giám đốc Xí nghiệp thuốc lá Thanh Hóa.
Quốc Hải - Doanh nhân Việt Nam xưa và nay |