|
TIẾP THỊ ĐƯỜNG ĐỜI
Người đời tiếp thị nhiều khi chỉ thuần túy chỉ để bán hàng, nhưng Đỗ Trung Hòa tiếp thị để lập thân, lập nghiệp. Số phận sinh ra Hòa trong một gia đình đông con, giàu tình thương yêu,
hiếu thuận, sống hạn hẹp bằng ruộng đồng, vườn tược, có gì ăn lấy. Được
đi học, có cái vốn văn hóa cấp III làm hành trang trào đời, so với các
bạn cùng trang lứa vùng quê, kể là tạm được, so với xã hội, cũng chỉ là
tay trắng. Những ngày đầu thập kỷ 90 thế kỷ trước. Đất nước đang
đầu thời kỳ đổi mới, cuộc sống linh hoạt hẳn lên, người ta đã xôn xao
chuyện làm giàu chân chính, làm giàu bằng trí tuệ và sức lực của mình.
Đây là cơ hội lớn cho nhừng ai không sợ nắng gió cuộc đời. Ánh sáng
cuộc đời đã mở Đỗ Trung Hòa đã vỗ đôi cánh tuổi trẻ bay vào cuộc sống
từ ngày ấy. Mười lăm năm sau, năm 2004, ông chủ trẻ Đỗ Trung Hòa, Giám
đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn Hòa Hợp đã đạt doanh thu 13,5 tỷ đồng
ước tính 2005 đạt 6 tỷ, có vốn đăng ký kinh doanh 720b triệu đồng và
vốn đầu tư 4,5 tỷ đồng, nộp ngân sách 300 triệu đồng. Anh Hòa đưa chúng tôi đi xem và giới thiệu các cơ sở sản xuất của anh: - Hiện tại Công ty có hai dây truyền sản xuất chính. Dây truyền sản
xuất nước rửa chén nhãn hiệu Ba Sao và dây truyền sản xuất bột giặt Hoa
Mơ. Dãy nhà xưởng, nhà kho vật liệu, kho thành phẩm đều tách riêng –
như thế là đúng với quy định nhà xưởng hóa chất, bảo đảm được an toàn
sản xuất và sức khỏe người thợ. Nhà xưởng sản xuất được chống nóng bằng
vật liệu xốp cách nhiệt có hệ thống điện chiếu sáng phù hợp và quạt
thông gió công nghiệp. Phòng kỹ thuật sản xuất không chỉ được trang bị
các dụng cụ thí nghiệm chuyên dụng mà còn được cách nhiệt, cách âm. Cán
bộ, công nhân kữ thuật làm việc trong điều kiện “tiêu chuẩn châu Âu”
mới mặc sức suy nghĩ và sáng tạo. Anh Hòa nói, dáng vẻ rất khiêm
nhường – anh muốn chúng tôi tự nhìn khung cảnh mà cảm nhận thực tế, cái
cơ ngơi sản xuất còng khiêm tốn, nhưng đã đáng nể vì sản phẩm của nó đã
có chỗ đứng ở 6 tỉnh, thành, len lỏi giữa các sản phẩm của các tập đoàn
đa quốc gia nổi tiếng trên thế giới như Unilever(Anh – Hà Lan), P &
G, Colgate(Mỹ), Kao(Nhật)… Còn trong thực tế, bắt đầu từ năm 2001, tại
Hội chợ triển lãm Thương mại quốc tế EXPO, bột giặt và nước rửa chén
của công ty anh cùng lúc đạt 3 Huy chương Vàng. Liên tiếp những năm
sau, chất lượng của các sản phẩm tiếp tục được khẳng định bằng những
tấm Huy chương Vàng tại các Hội chợ và chứng nhận Hàng Việt Nam chất
lượng cao… Đỗ Trung Hòa tự tin đứng vào hàng ngũ những doanh nhân.
Năm 2004, Hội Doanh nghiệp Trẻ Việt Nam và Thủ tướng Chính phủ trao cho
anh giải thưởng Sao Vàng Đất Việt, Đỗ Trung Hòa còn rất nhơ buổi
đầu mình đi xin việc. Một người bà con xin cho chân tiếp liệu, cung ứng
cho Viện Hóa Công Nghiệp. Viện đóng trên đường Phạm Ngũ Lão (Hà Nội)
gần với viện Bảo tàng Lịch sử cổ kính, có nhà xưởng sản xuất ở Cầu
Diễn. Nói “tiếp liệu” cho phong phú, thực ra là đi mua dầu sả từ Hàm
Yên (Tuyên Quang) về để chế biến nước tẩy rửa nhà vệ sinh và nấu xà
phòng. Quãng đường vài trăm cây số, cả đi cả về và mua bán, chỉ có một
mình được giao khoán, nên phải tính toán, lựa chọn cốt sao cho có lợi
nhất: giá mua phải chăng, dầu đạt chuẩn, vận chuyển nhanh ma rẻ. Sau
vài chuyến đi, Hòa đã nhận ra rằng: hợp đồng với xe quân đội là là chắc
ăn. Không đắt hơn xe ngoài, ít bị dừng khám xét vì mang biển số đỏ, lái
xe tính tình dễ chịu không mè nheo. Vậy là cái việc nhọc nhằn đội nắng
đội mưa, không giờ giấc, tất cả chạy ngược chạy xuôi ấy cũng quên dần
với Hòa và chính anh cũng không ngờ rằng cơ hội dao dịch, tính toán
thúc đẩy cái tính năng nổ, đôn đáo ở trong anh nảy nở, tạo nên cả sự tự
tin. Bằng những bước đi ngày ấy, Hòa với thực hiểu câu tục ngữ: “Đi một
ngày đàng học một sàng khôn”. Sự khôn ngoan và mong muốn trở thành
người có khả năng đỡ đần cha mẹ giúp anh em cứ lớn dần lên. Hai năm
sau, với quan hệ và chút vốn nhỏ, Hòa xin mở một cửa hàng làm đại lý
bán sản phẩm của Viện Hóa Công Nghiệp. Bốn năm sau Hòa như lớn hẳn lến.
Tầm nhìn của Hòa vượt hơn cái tuổi 24 – 25. Chiếc áo của thời bao cấp
mắc mớ, lệ thuộc, kham khổ, làm anh cảm thấy rất bức bối. Anh đã có
thời gian để quen thân với cán bộ kỹ thuật đầu não của nơi anh làm
việc. Anh đem ý định làm một tổ hợp sản xuất riêng của anh trao đổi với
các kỹ sư giỏi. Có người mở to mắt vào anh nhìn trân trân rồi lặng lẽ
bỏ đi. Có người bảo: “Không khó, làm được”, Ngày ấy các quy định bản
quyền sở hữu trí tuệ chưa chặt chẽ… Vậy là tổ hợp Hòa Hợp ra đời ngay
tại nhà riêng của Hòa, chuên sản xuất xà phòng kem, từ vài trăm cân,
rồi mỗi tháng làm cả tấn. Số lượng ngày càng tăng nhưng chất lươngj giá
cả vẫn vậy. Sản xuất và giải hàng cho các đại lý, Hòa và anh em trong
nhà tự làm. Hao phí gián tiếp không đáng kể mà điều hay là đã luôn áp
sát người tiêu dùng, biết hết những nhận xét của họ. Loại kem giặt
“bình dân” của Hòa cứ thế mà phát triển. Hòa nhớ lại: cứ nghĩ mình
khiêm tốn làm kem giặt chuyên bán cho người có thu nhập thấp trong nước
là đúng hướng và quá đủ việc làm, mà có lúc còn bán được sang Trung
Quốc, mỗi tháng từ 50 – 70 tấn kem giặt và nước rửa chén bát. Nhưng
sự đời đâu chỉ có một chiều thuận. xuất hiện các gói OMO. TIDE… dạng
bột, dạng hạt mang mùi thơm đặc biệt với những bảng quảng cáo, lời giới
thiệu mùi mẫn “Đánh bật những vết bẩn cứng đầu nhất” khá là hấp dẫn…
Phải có những mặt hàng không thua kém hàng của các hãng nước ngoài và
giá cả hạ hơn! Hòa nghiền ngẫm và cần sự hỗ trợ của các chuyên gia, cần
cả vốn để thay đổi thiết bị từ làm xà phòng kem sang xà phòng dạng hạt,
nước rửa chén bát và dầu gội đầu. Hòa đã nhận được sự hỗ trợ tối đa của
kỹ sư Quang, kỹ sư Thịnh. Họ đã giúp Hòa, trong giám sát lắp đặt dây
chuyền sản xuất mới và cho ra lò những gói bột giặt Hoa Mơ đầu tiên –
hạt trắng đều, có hương thơm, không ăn da tay, dùng cho máy giặt cũng
tốt… Nhưng điều đáng nói hơn cả là giá bán lẻ 1 kilogam bột giặt Hoa Mơ
chỉ có 14.000 đồng. Rõ ràng thấp hơn các loại bột giặt nhập vẫn bán với
giá 17.000 đồng 1 kilogam. - Nhà máy mới xây dựng, phải khấu hao thiết bị, anh làm thế nào để hạ giá thành? - Vẫn phải khấu hao thiết bị, nhưng công nhân sản xuất đã tiết kiệm rất
tốt năng lượng và hóa chất: càng ngày càng biết vận hành tốt máy móc,
tiết kiệm năng lượng tối đa, theo sát thời tiết, điều chỉnh chế độ hoạt
động của cả dây chuyền kịp thời. Đừng ỷ vào sự hoàn hảo của máy móc đã
khép kín và phải hết sức lưu ý nhiệt độ của không khí không để sản phẩm
không có phế phẩm. Vì loại đi một mẻ là mất hàng tấn hóa chất, còn đã
kém phẩm chất là coi như phải loại. Phải giữ tín nhiệm về chất lượng.
Hạn hữu lắm mới phải loại bỏ. - Hiện tại anh có kỹ sư? -
Chưa. Các vị đều rất bận, như anh Quang – hiện là Viện Phó Viện Hóa
chất cộng nghiệp. Dù có tinh thần hợp tác rất tốt họ cũng chỉ giúp quá
trình triển khai ban đầu còn khi sản xuất thì mình phải tự quản. Hòa nói nhỏ: “Do đấy mà thôi thúc mình tự học, tìm và đọc sách. Không thiếu tài liệu mà chỉ thiếu thời gian!” Hòa nở một nụ cười rất tươi, nét mặt rạng rỡ theo các cụ thích xem
tướng mà suy đoán tương lai con người thì anh đang vượng lắm! Tôi đã
nghe kể là mấy năm vừa làm chủ nhiệm, làm giám đốc, Hòa đã học song hai
khóa hàm thụ. Cũng nảy ra ý định hỏi cho rõ thêm, lại ngại cắt dòng suy
nghĩ của anh. - một mình thì không thể quản nổi chất lượng. Máy móc
được chỉ định giám sát cũng bớt đi phần làm ẩu. Nhưng cái chính là con
người. Tuyển lao động từ con em nông dân, phải rèn ngay từ đầu. Rồi
từng tháng phải bổ túc thêm. Tôi đã có 4 thợ lành nghề, họ thay nhau
giám sát quy trình sản xuất và bảo đảm chất lượng sản phẩm. Lương của
các anh em khác hơn 1 triệu, lương người giám sát gấp đôi. Tôi đi dao
dịch được là do anh em hết lòng với công việc. Đỗ Trung Hòa, thuộc
típ người sống theo quan niệm: mình sống là để cho người khác sống tốt
hơn. Chả thế mà suốt cả mấy lần gặp gỡ, tôi chưa từng nghe thấy ở anh
những câu đại loại: thương trường là chiến trường. Không phải anh không
cảm nhận được sức ép của cạnh tranh. Chỉ có lần anh than: Quảng cáo
trên truyền hình đắt quá! Tôi thầm đoán,anh cúng mong muốn một lúc nào
đó những chai nước rửa chén Ba Sao và những gói bột giặt Hoa Mơ cũng
được hiện ra trên màn hình trong ánh sáng màu nhấp nháy với những lời
giới thiệu nhã nhặn để hàng triệu người xa gần đã biết có một thương
hiệu Hòa Hợp với các sản phẩm Ba Sao, Hoa Mơ – dân dã, giản dị như
chính người chủ trẻ làm ra nó vậy. Nhưng mong thế vẫn là mong. Đồng
tiền làm ra còn phải làm nhiều điều hữu ích. Hai nnăm 2003 – 2004, Hòa
đã đóng 30 triệu đồng cho quỹ “xóa nhà dột nát”, xây Nhà Tình nghĩa
tặng các cựu thanh niên xung phong có hoàn cảnh khó khăn trong huyện
Hoài Đức. Có được ngày hôm nay, những thế hệ đi trước đã phải chựu đựng
rất nhiều. Công ty của Hòa còn chưa dám “làm” một vài phút trên truyền
hình, lại sẵn sàng chi vài trục triệu đồng những mong bù đắp phần nào
đó cho các bậc đàn anh. “Sống để người khác tốt hơn” là một nguyên
tắc điều chỉnh hành vi của Hòa. Ngay cả khi có lợi thế trong cạnh
tranh, Hòa cũng không tận dụng để o ép, chiếm lĩnh thị trường. Chuyện
là, vào năm 2000, bột giặt ngoại ào vào, nhiều cơ sở sản xuất trong
nước ào vào, nhiều cơ sở xà phòng trong nước gần như chết đứng. Không
tiêu thụ được hàng, không có khả năng cải tạo mẫu mã, nâng cao chất
lượng, lương công nhân cungc không có. Có giám đốc phải bỏ tiền túi ra
nâng cao chất lượng, lương công nhân cungc không có. Có giám đốc phải
bỏ tiền túi để trả lương thợ, hòng giữ cơ sở để chờ thời cơ. Trăn trở,
hy vọng, khổ đau lắm. Cái ngày ấy Công ty Hòa Hợp nhờ chuyển nhanh từ
xà phòng kem sang xà phòng dạng hạt mà giá hạ nên không mất khách. Hòa
biết có cơ sở đang đứng trước quá nhiều vấn đề, anh đã giúp cơ sở ấy
bằng cách cho vay sản phẩm, công nhân chỉ có đóng gói để bán . Bề ngoài
cứ như cơ sở ấy vẫn hoạt động bình thường. Lòng tốt của giám đốc Hòa,
sức chịu đựng của cơ sở nọ, vẫn thua trong cuộc chạy đua với hàng ngoại. Hòa giãi bày những băn khoăn: - Các anh ấy đã chỉ bảo mình lúc mình khởi nghiệp. Tình nghĩa, mến mộ,
trân trọng kể sao cho hết. Có lẽ chỉ có quyết tâm không thôi thì sẽ
chịu thua cơ chế và thất bại trong cuộc đua. Điều mà giám đốc Hòa
tính đến, đặt ra trước các doanh nghiệp rõ mười mươi. Hội nhập, gia
nhập WTO, không còn thuế quan, không được bảo trợ… Các công ty trong
nước, chẳng kể quốc doanh hay tư nhân, đều chấp nhận cạnh tranh lành
mạnh. Phải biết mình, biết người để vươn lên để tự khẳng định. Chạy
đua thật sự, phải chạy trên đôi chân của mình. Chân đi mượn hay chân bị
trói buộc đều chào thua. Bây giờ, hễ cứ nói đến sản xuất, kinh
doanh là người ta nhấn mạnh hiệu quả. Đúng quá đi. Những con số gọn
trong một trang in vi tính Đỗ Trung Hòa đưa cho tôi, cũng thể hiện rõ
điều ấy: - Tốc độ tăng trưởng trong năm 2004 (so với năm 2003) là: - Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư 98% - Thu nhập bình quân người lao động tăng: 10% - Đóng bảo hiểm cho 80 lao động 32,3 triệu đồng - Quỹ phúc lợi tập thể 40 triệu đồng Có điều rất đáng nói ở đây là chàng trai nông dân Đỗ Trung Hòa 15 năm
trước là ông chủ trẻ họat động trong ngành công nghiệp hóa chất là hai
điểm mà khoảng cách rất xa, rất xa về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh
doanh. Cứ thử nghĩ xem, nếu không có buổi ra đi vào một chiều mùa
thu năm 1990, Đỗ Trung Hòa rời xã Đắc Sở, Hoài Đức Hà Tây rời dòng sông
Đáy để ra Hà Nội làm tiếp liệu cho Viện Hóa công nghiệp thì làm gì có
giám đốc Hòa hôm nay. Bốn năm sau, Hòa trở về lấy ngay ngôi nhà của bố mẹ làm tổ hợp sản xuất. Lại mười năm sau (cuối năm 1999), Hòa xin và được cấp 7000 mét vuông đất làm nhà xưởng và lập công ty… Năm năm qua – luôn có doanh thu trên 10 tỷ đồng trên 7000 mét vuônh đất
ấy và 80 người sản xuất – 80 con em nông dân thu nhập hơn một triệu
đồng một tháng (và người cao hơn là 2 triệu đồng một tháng). 7000m2
là hai phần ba hécta, đặt lên đó hai dãy nhà xưởng có doanh thu (2004)
13,5 tỷ đồng. So với mức phấn đấu mà sản xuất nông nghiệp đề ra 50
triệu đồng một hécta, thì quả là hiệu quả! Cứ thế mà gắn bó với quê
hương. Cái nhìn thấy là cảnh trí Đắc Sở đổi thay, cái sâu xa hơn là 80
lao động mức lương ấy thì không nghèo. Cứ từ từ mà tính, thì rõ ra là
chủ trương chuyển đổi cơ cấu, kinh tế, cơ cấu thành phần xã hội, đúng
lắm. mà cứ nói đi nói lại vẫn thấy xa lắc, xa lơ ở đâu đó, như không
phải việc của mình. Phải có ai đó như Đỗ Trung Hòa ở Sở Đắc, thì chủ
trương ấy mấy long lanh trước mắt bà con. Nhỡn tiền mới thuyết phục và
phá vỡ thói quen nghĩ cũ kỹ, nằm ủ trong người nông dân. |