|
CUỘC ĐỜI VÀ NHỮNG CÔNG TRÌNH LẮP MÁY VIỆT NAM
Trong xây lắp công nghiệp, lực lượng lắp máy luôn là “
Người cầm cờ chạy tới đích cuối cùng”. Họ không chỉ là những người phải
làm công đoạn đòi hỏi cao nhất về kỹ thuật mà thường ở trong khoảng
thời gian căng thẳng nhất, thậm chí phải hoàn thành công việc theo thời
hạn do ý chí chủ quan của các chủ đầu tư. Thế nhưng, trong công cuộc
xây dựng và phát triển đất nước, họ lại là lực lượng đi tiên phong
trong sáng tạo, đổi mới; luôn đi tắt đón đầu trong ứng dụng khoa học kỹ
thuật lắp máy, trong công tác tổ chức quản lý và sản xuất; đặc biệt đã
dần vươn lên và khẳng định thế chủ động trong đầu tư, đảm nhiệm vai trò
Tổng thầu của một số công trình trọng điểm quốc gia. Góp phần cho sự
lớn mạnh của ngành, có những cống hiến to lớn của những hạt nhân lãnh
đạo - những con người sống không chỉ cho riêng mình, lao động quên mình
cho những công trình lắp máy Việt Nam. Và kỹ sư Đào Chí Sảo là một cánh
chim đầu đàn trên đường bay vững khoẻ ấy của ngành. Ông sinh ngày 15/7/1939, tại một làng ven con Sông Hồng quanh năm quạnh
đỏ phù xa, thuộc huyện Lâm Thao, Phú Thọ. Nhà ông khó khăn, ông cụ thân
sinh ra ông mất sớm nên gánh nặng gia đình với bốn con thơ đè cả lên
tấm vai gầy của người mẹ. Cái khó, cái khổ là vậy nhưng cũng không thể
tước đi cái ham thích được học trong con người ông. Để có tiền đi học,
từ năm 13 tuổi ông đã tự đi cày bừa, có lúc phải thuê, làm mướn; không
nề hà chuyện chặt củi, vác nứa, đan bồ, đan sọt hay thậm chí làm cả
những việc mà chỉ những người phụ nữ mới làm như đan áo sợi, áo
len…Chuyện đời thường vẫn vậy, ở trong những hoàn cảnh càng gian truân
bao nhiêu, ý chí và lòng quyết tâm trong con người được nhân lên gấp
bội. Năm 1959, chàng học trò nghèo trường Hùng Vương Đào Chí Sảo đã làm
nên một bước đột phá cho cả cuộc đời - là số ít người được ghi danh vào
học khoa Điện Trường Đại học Bách khoa Hà nội, ngành then chốt trong
công cuộc điện khí hoá Xã hội chủ nghĩa. Là một kỹ sư phải giỏi nghề Ngày còn là một sinh viên ông đã luôn tâm niệm về điều này. Và tư tưởng
đó đã trở thành quyết sách đào tạo và bổ nhiệm các chức danh quản lý
khi ông giữ trọng trách một Tổng giám đốc Tổng công ty Lắp máy Việt
Nam-LILAMA. Nhưng trỏ thành một kỹ sư giỏi cũng không phải dễ. Muốn
vậy, ngoài kiến thức học trên sách vở, kỹ sư Sảo phải rất chịu khó quan
sát, lắng nghe và học hỏi đồng nghiệp, đặc biệt biết sáng tạo vận dụng
tổng hợp kiến thức trong xử lý công việc. Dường như quá trình tích lũy
ấy không có điểm bắt đầu hay kết thúc mà nằm trong mọi tình huống, thời
gian và từng công trình. Thử thách lớn nhất của người kỹ sư trẻ Chí Sảo
là ngay khi tốt nghiệp đại học về công tác tại Công ty Lắp máy Hà nội
(tiền thân của LILAMA), ông đã phải đảm nhiệm công việc nhóm trưởng kỹ
thuật lắp điện của Nhà máy nhiệt điện thuộc Liên hiệp hóa chất phân đạm
Hà Bắc. Đây là một công trình trọng điểm trong những năm đầu thập niên
sáu mươi của công cuộc xây dựng Xã hội chủ nghĩa ở Miền Bắc. Để hoàn
thành một khối lượng công việc vừa lớn và phức tạp như vậy đòi hỏi ông
phải theo dõi, nghiên cứu bản vẽ hết sức tỉ mỉ, cẩn thẩn; kết hợp chặt
chẽ với đội trưởng công trình trong thực hiện tiến độ và thường xuyên
trao đổi, tranh luận để tìm ra hiệu quả tổ chức sản xuất cao nhất. Từ
công trình này và tiếp sau với cương vị phụ trách kỹ thuật công trình
sân bay Kép, ông đã đúc kết ra, trong chỉ đạo công việc kỹ thuật cần
theo dõi quá trình thực hiện của công nhân, sau khi phân tích thấy
thiếu xót mới đánh giá và điều chỉnh cho phù hợp, tránh vội vàng kết
luận thiếu thận trọng. Đức tính cẩn thận và kiên trì ở một kỹ sư lắp
máy càng được ông gèn rũa trên công trường sản xuất và lắp ráp cầu phao
quân dụng đầu tiên của Việt Nam ở Hải Dương. Để có một cây cầu nổi nhẹ,
bền, chịu được áp lực cao và lắp ghép hoàn chỉnh hàng vạn chi tiết
trong thời gian nhanh nhất, người thợ cơ khí lắp máy phải mài gọt chính
xác từng chi tiết. Với ông, mỗi cây cầu phao khi ấy là
một công trình, là một bài học lớn trong đó có những “trang sách” được
nhuộm bằng cả máu, cả sự hy sinh của 17 đồng đội dưới làn mưa bom. Ông Sảo cũng là người rất coi trọng tính sáng tạo trong công việc. Ở
ông, dù trong hoàn cảnh nào cũng tìm mọi cách xoay chuyển tình thế.
Biết vận dụng những lợi thế về sức mạnh trí tuệ tập thể, giải quyết
những khó khăn thuộc về điều kiện vật chất của đất nước. Ông nhiều lần
làm các chuyên gia nước ngoài không khỏi ngạc nhiên và khâm phục với
phương án xử công việc. Bằng sáng kiến dùng thuyền thép trượt trên tà
vẹt kê cao theo chiều phẳng, ông và những người thợ lắp máy công trình
Nhiệt điện bao gói Lạng Sơn đã chuyển thành công máy biến thế điện lớn
qua đồi có độ dốc trên 30 độ, đảm bảo máy không bị nghiêng (độ nghiêng
cho phép không quá 15 độ). Đặc biệt với kinh nghiệm của người kỹ sư
nhiều năm trong nghề, khi đã là Tổng giám đốc LILAMA và trực tiếp điều
hành công tác lắp máy cho công trình Thuỷ điện Sông Đà, ông rất bình
tĩnh xử lý sự cố đứt cáp, tung tời chính của máy cẩu 125 tấn. Để đảm
bảo tiến độ trong điều kiện không thể sửa hay đưa được cẩu mới tới công
trình, bên cạnh sáng tạo phương thức lắp tời bên ngoài dùng hố thế neo
giữ, thay tời lắp bên trong cẩu của tập thể kỹ sư lắp máy đã rút thời
gian sửa chữa chỉ còn một tuần. Nhưng trước khi đưa vào cẩu chính thức,
ông cứ dằn vặt suy nghĩ mãi: cẩu bị sự cố tuy đã sửa xong thì cũng như
người mới ốm dậy không thể khoẻ như lúc đầu được. Cẩu hoạt động bình
thường mà đã gặp sự cố khi cẩu nặng, tiếp tục cẩu nặng lại sau khi sửa
liệu có an toàn? Sau khi nghiên cứu tấm van chắn cửa xả nước thuỷ điện
nặng 86 tấn gồm 2 phần, trong đó phần vỏ là các tấm tôn dầy hàn lại
thành hòm chữ nhật nặng 28 tấn và phần ruột còn lại là bê tông đúc, ông
đã mạnh dạn đề nghị với Bộ trưởng Bộ Xây Dựng và ông Tổng chuyên viên
Liên Xô phương án hạ cửa tôn trước, sau đó phun bê tông sau, vừa nhanh
lại vừa an toàn khi cẩu. Lúc đầu mọi người đều phản đối nhưng sau hơn
nửa giờ thuyết phục, ông đã thành công. Kết quả, cẩu lắp rất nhanh mà
không có sự cố, phần bê tông được đổ xong chỉ trong một ngày và bảo
đúng yếu tố kỹ thuật công trình. Và công trình lấp sông thuỷ điện Sông
Đã thực hiện đúng tiến độ trước sự chứng kiến của lãnh đạo 9 các nước
thành viên thuộc khối CEP. “ Có công mài sắt, có ngày nên kim”. Kỹ
sư lắp máy như ông luôn lấy những công trường là nơi gèn luyện tay
nghề. Dù bất cứ nơi đâu, trong điều kiện nào ông không lùi ý chí tiến
thủ. Ông sẵn sàng lao vào các công trường từ lắp máy cho ngành hoá chất
hay nhà máy điện…trong thời gian làm trưởng đoàn thực tập tại Nga; từ
đó học hỏi, rút ra được cách thức tổ chức, biện pháp thi công tiên tiến
và sử dụng máy móc hiện đại. Với tinh thần hăng say, hết lòng cho nghề,
ông gắn bó ngày đêm trên các công trường. Suốt quá trình là kỹ sư trực
tiếp lắp máy, ông ít khi có được những bữa cơm trọn vẹn với gia đình.
Cả ba lần vợ sinh con ông đều không có mặt ở bên để chăm sóc và chỉ có
thể về thăm nhà cho đến khi công trình vận hành hoàn chỉnh. Bản lĩnh
trong công việc của ông, đặc biệt sự kiên trì miệt mài với công tác lắp
máy, đã giúp ông cùng các đồng nghiệp chỉ trong thời gian ngắn hoàn
thành tiến độ lắp điện trên công trình Thuỷ điện Thác bà năm 1971,
Nhiệt điện Uông Bí đợt 3 năm 1974 và được chuyên gia Liên Xô đánh giá
cao. Thành quả này đã đánh giá năng lực trình độ cũng như khả năng làm
việc trong điều kiện khắc nghiệt của các kỹ sư, công nhân Vịêt Nam. Đây
cũng là một trong những yếu tố giúp ngành lắp máy Việt Nam có bước tiến
xa, đạt trình độ tiên tiến trong khu vực. Người lãnh đạo xuất sắc Ông giữ cương vị Tổng giám đốc Liên hiệp các Xí nghiệp Lắp máy Việt Nam
ở tuổi 44. Trách nhiệm khá nặng nề khi phải điều hành một đơn vị với
hàng chục xí nghiệp thành viên, 2 trường đào tạo và lo việc làm cho hơn
16.000 cán bộ công nhân. Nhưng nhờ kinh qua thực tiễn trên nhiều công
trường lắp máy, trưởng thành từng bước từ một kỹ sư, tổ trưởng kỹ
thuật, trưởng phòng kỹ thuật, phó giám đốc xí nghiệp và 7 năm giữ cương
vị phó tổng giám đốc Liên hiệp, ông đã có 3 lần trực tiếp làm giám đốc
các Xí nghiệp lắp máy Hoàng Thạch, Xí nghiệp Liên Hợp lắp máy 45 Bỉm
Sơn và Xí nghiệp Liên hợp Lắp máy 69 Phả Lại, ông đã hoàn thành xuất
sẵc vai trò của người “đứng mũi chịu sào”. Ông là một người quản lý
giỏi, thích ứng nhanh với sự biến đổi của cơ chế kinh tế. Mặc dù thời
bao cấp tiến độ công trình thường bị áp đặt theo ý chí chủ quan của các
cơ quan nhà nước, quá trình thi công bị động về mặt bằng, thiết kế,
thiết bị công nghệ nhưng ông khắc phục bằng việc bố trí lực lượng hợp
lý, sử dụng cán bộ quản lý công trường không chỉ am hiểu kỹ thuật mà
còn giỏi tổ chức sản xuất, nhanh nhạy và có nhiều sáng kiến trong xử lý
những tình huống khách quan. Ông cũng rất coi trọng công tác giáo dục
tư tưởng “quyền lợi đất nước là cao nhất, phải hy sinh lợi ích cá nhân
để khắc phục khó khăn”; đồng thời đẩy mạnh thi đua, phát huy sáng kiến,
thành tích kỹ thuật và giữ vững kỷ luật sản xuất. Chuyển sang thời kỳ
đổi mới, ông rất quan tâm đến công tác quản lý kinh tế, đến sự tăng
trưởng trong kinh doanh và hiệu quả công việc. Vì vậy ông có chiến lược
đầu tư về mọi mặt, xây dựng kế hoạch phát triển ngắn và dài hạn cho
doanh nghiệp. Và để có lợi nhuận, bản thân là người lãnh đạo ông cũng
xông xáo tiếp thị, tìm kiếm và tham gia đấu thầu các công trình. Một trong những thành công lớn của ông là đã làm tốt công tác tổ chức
cán bộ. Ông xem xét và chọn lựa rất kỹ trước khi đề bạt một người vào
vị trí quản lý. Với ông, người quản lý đơn vị ngoài trình độ về kỹ
thuật, giỏi kinh doanh và giỏi điều hành phải còn là người có tư chất
đạo đức, yêu nghề. Trong những công việc cụ thể, người quản lý phải
biết tập hợp lực lượng, mở rộng dân chủ, lắng nghe và chọn lọc ý kiến;
đồng thời phải luôn sáng tạo, có tính quyết đoán cao và dám chịu trách
nhiệm. Với những chương trình đầu tư, người quản lý phải thấy hiệu quả
bền lâu, không vì sự chi phối của lợi ích trước mắt mà dẫn đến gây hậu
quả xấu cho doanh nghiệp. Ông rất coi trọng sự công tâm của người cán
bộ và phê phán bệnh chạy theo thành tích. Theo ông, người lãnh đạo tham
thì sẽ làm hỏng cả một đơn vị. Chọn được một người quản lý khó khăn là
vậy nên để giữ và phát huy được vai trò của họ, ông quan tâm đúng mức
đến lợi ích cá nhân bằng thu nhập thoả đáng. Kinh nghiệm của ông là
“phải kết hợp hài hoà được lợi ích chung của nhà nước, tập thể và cá
nhân”. Chính vì thế nhiều người đã nhận xét, để trở thành một giám đốc
thời kỳ ông làm lãnh đạo rất khó nhưng đã lên lại bền và trưởng thành
nhanh. Ông là người am hiểu trong đầu tư và tài tổ chức kinh
doanh. Để điều phối hoạt động của doanh nghiệp trên toàn quốc, phát huy
hiệu qủa tối ưu, ông phân bố mạng lưới đơn vị thành viên ở khắp các khu
vực kinh tế trọng điểm từ Bắc tới Nam. Căn cứ vào quy mô của mỗi thành
viên, ông chủ trương đầu tư xây dựng một nhà máy chế tạo thiết bị và
kết cấu phù hợp. Và công trường do Tổng công ty hay đơn vị thành viên
thi công gần nhà máy nào thì phần chế tạo thiết bị sẽ được giao cho nhà
máy đó thực hiện, giúp chủ động tiến độ và giảm phần nhiều chi phí vận
tải. Mặt khác, trên Tổng công ty ông tập trung đầu tư các nhà máy trung
tâm chuyên chế tạo các thiết bị lớn và hiện đại cho ngành xi măng, thuỷ
điện, nhiệt điện…; tập trung trang bị máy móc, thiết bị lớn và hiện đại
cho một công ty chuyên ngành quản lý để phục vụ chung cho các đơn vị
thành viên khác. Sự kết hợp thành công trong mô hình đầu tư này vừa
nâng cao tính tập trung, tránh tình trạng đầu tư dàn trải nhưng vẫn
phát huy được tính chủ động của các đơn vị thành viên. Đồng thời từ
lợi thế về cơ sở vật chất và chuyên môn, ông và lãnh đạo LILAMA xây
dựng chiến lược hợp tác đầu tư với các đối tác lớn hàng đầu của Mỹ sản
xuất thang máy OPTIS Elevetor, tập đoàn sản xuất thép đứng thứ 2 thế
giới POSCO của Hàn Quốc để chế tạo kết cấu thép... Từ đó, vừa tận dụng
tiềm lực tài chính của đối tác, vừa tiếp thu trình độ khoa học kỹ thuật
tiên tiến, trình độ quản lý của các nước phát triển. Thế mạnh này được
ông phát huy trong nước bằng chủ trương tham gia đầu tư cổ phần ở nhiều
nhà máy thuỷ điện, xi măng… Trong điều hành kinh doanh ông rất chú
trọng phát triển thị trường nhưng cũng đặc biệt coi trọng chất lượng và
tiến độ công trình. Giúp nâng cao hiệu quả trong công tác đấu thầu, ông
thi hành chính sách phân trách nhiệm theo quy mô công trình. Với những
công trình nhỏ, các đơn vị thành viên sẽ tự đấu thầu; Tổng công ty sẽ
tham gia đấu thầu và tổ chức thực hiện những công trình lớn. Do đặc thù
của công việc lắp máy là “Người cầm cờ chạy tới đích cuối cùng” nên
thường bị động về thời gian, lực lượng và phương tiện do sự chậm chạp
từ các khâu thiết kế, mua sắm thiết bị… nhưng lại chịu áp lực rất lớn
về tiến độ hoàn thành chung của công trình. Khắc phục tình trạng này,
Tổng giám đốc Sảo đã áp dụng hiệu quả phương pháp “ hội chiến”- tập hợp
thiết bị và lực lượng của nhiều đơn vị thành viên tập chung vào một
công trường đang đòi hỏi gấp về tiến độ; phân chia, điều phối nhịp
nhàng giữa các khu công trình và từng phần công việc. Chính vì thế,
hàng loạt công trình trọng điểm quốc gia như: 8 tổ máy thuỷ điện Sông
Đà, thuỷ điện Trị An, Yaly, nhiệt điện Phả Lại, tổ hợp các nhà máy điện
Phú Mỹ, đường dây 500 kv Bắc Nam, nhà máy xi măng Hoàng Thạch, Chinh
Phong, Bút Sơn, Sao Mai … đã được vận hành đúng theo kế hoạch. Và “hội
chiến” đã trở thành một trong những “chiến lược” chủ đạo xuyên suốt
công tác điều hành trên nhiều công trình lắp máy của Tổng công ty. Với ngành lắp máy, yếu tố trang thiết bị và trình độ kỹ thuật công nghệ
đóng vai trò quan trọng. Nhận thức rõ vấn đề này, ông rất coi trọng đến
các trang thiết bị thi công, tận dụng tối đa công suất cho các công
trình, bảo trì thường xuyên và mạnh dạn bổ sung nhiều phương tiện thiết
bị thi công đặc chủng như các cần trục lớn, Platphooc vận chuyển có tải
trọng lớn, các loại máy hàn hiện đại, các máy đo tiên tiến, máy chụp
X-quang, thiết bị kiểm tra mối hàn bằng siêu âm, tia gamma… Công tác
đào tạo mới, đào tạo chiều sâu nâng cao trình độ tay nghề đội ngũ kỹ sư
và công nhân kỹ thuật luôn được đặt ra. Lực lượng lắp máy của LILAMA
không chỉ được trang bị kiến thức trên lý thuyết mà đã rèn luyện qua
nhiều công trường, đúc kết được rất nhiều kinh nghiệm trong quá trình
thi công cùng các chuyên gia nước ngoài từ: Liên Xô (cũ), Trung Quốc,
Mỹ, Anh, Đức, Pháp, Nhật, Thuỵ Điển, Đan Mạch, Tiệp Khắc, Hàn Quốc…
Trên nhiều lĩnh vực công nghệ cao, đội ngũ công nhân lắp máy Việt Nam
đã có chứng chỉ Quốc tế, giành được nhiều phần thưởng tay nghề Quốc tế
và khu vực Đông Nam á; Tổng công ty và nhiều đơn vị thành viên đã có
chứng chỉ ISO 9001, ISO 9002. Bên cạnh việc nghiên cứu, thực hiện các
tiêu chuẩn kỹ thuật của nhiều nước một cách nghiêm túc, qua quá trình
thi công lực lượng lắp máy Việt Nam cũng đã học tập, đúc rút kinh
nghiệm tự biên soạn các quy trình, quy phạm và sai số lắp đặt của các
lĩnh vực lắp máy, là cơ sở quan trọng xây dựng tiêu chuẩn ngành của Bộ
Xây Dựng. Từ sự phát triển vượt bậc này, nhiều chuyên gia nước ngoài đã
có cùng nhận xét, công nhân và kỹ sư lắp máy Việt Nam có đầy đủ trình
độ, khả năng đảm đương thi công các công trình công nghiệp không thua
kém các nước tiên tiến trong vùng và trên thế giới. Và thực tế, lực
lượng lắp máy LILAMA đã vươn lên tự đảm nhiệm thay thế chuyên gia nước
ngoài thi công nhiều công trình lớn như: Nhà máy đường Lam Sơn-Thanh
Hoá công suất 1500 tấn mía/ngày, mở rộng xi măng Hà Tiên, công trình
thuỷ điện ĐrâyHlinh….tiết kiệm cho nhà nước hàng chục triệu đô la. Góp phần đẩy mạnh các hoạt động sản xuất kinh doanh, ông luôn đề cao
yếu tố đoàn kết, hợp tác. Đoàn kết đã trở thành chất kết dính giữa
LILAMA với các đối tác, với địa phương và các chuyên gia nước ngoài tạo
sức mạnh tổng hợp giúp Tổng công ty hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Trong
đoàn kết nội bộ, ông là người lãnh đạo công tâm, biết lắng nghe và kịp
thời nắm bắt, thực tâm góp ý kiến, uốn nắn sai trái của cán bộ. Tuy vậy
ông cũng rất kiên quyết trong công việc, dám chịu trách nhiệm, nói
thẳng nói thật, không quy kết, đổ lỗi mà mong muốn kết hợp giải quyết
khó khăn. Là người am hiểu chuyên môn, ông đã bình tĩnh thuyết phục
hàng nửa giờ với Tổng chuyên viên công trình Nhà máy thuỷ điện Hoà Bình
khi xử lý sự cố đứt tời cẩu lớn, hoàn thành đúng tiến độ chạy thử Tổ
máy số I; tự tin nhận trách nhiệm thay thế chuyên gia Pháp sửa chữa và
lắp ráp Nhà máy Xi măng Hà Tiên công suất 1,1 triệu tấn/năm; trong
nhiều công trình, ông kiên quyết chỉ ra sự chậm trễ tiến độ về bản vẽ,
mặt bằng, thiết bị vật tư… nhưng cũng mạnh dạn chỉ ra những biện pháp
phối hợp khắc phục chứ không có ý đổ vấy trách nhiệm cho nhau. Một câu chuyện về một kỷ niệm đáng nhớ cả đời mà ông đã trải qua. Đó là
vào đầu tháng 4/1994, khi mà thời hạn đóng điện đường dây 500 kv Bắc
Nam chỉ còn hơn 1 tháng. Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã triệu tập cuộc họp
gồm các Bộ liên quan, Ban quản lý và các lực lượng thi công để kiểm
điểm thực hiện tiến độ. Trong cuộc hop, Ban quản lý báo cáo rất nhiều
vấn đề, trong đó có sự chậm trễ của phần kéo và đấu các đầu cáp giữa
các trạm biến áp và trạm bù mà trách nhiệm thuộc về lực lượng lắp máy.
Đại diện của Bộ Điện và công ty điện lực đều khẳng định như vậy. Cả hội
nghị căng thẳng hướng về phía Tổng giám đốc Đào Chí Sảo. Bỗng Thủ tướng
hỏi: cậu nào phụ trách lắp máy nói lý do tại sao lại làm chậm thế. Ông
Sảo từ tốn đứng dậy và nói: Kính thưa Thủ tướng và các đồng chí lãnh
đạo các bộ, các đơn vị. Tất cả những lời phát biểu của Ban quản lý và
Bộ Điện về công việc lắp máy đều đúng cả nhưng chỉ là đúng về hiện
tượng. Thủ tướng liền ngắt lời: tại sao nói về hiện tượng lại đúng cả.
Ông Sảo lại bĩnh tĩnh trả lời: Thưa Thủ tướng, tôi nói hiện tượng vì
thực tế cả 4 trạm từ trạm Phú Lâm đến trạm Sông Đà đều chưa kéo cáp và
đấu đầu cáp. Nhưng không phải lực lượng lắp máy chúng tôi không chịu
làm, nguyên nhân chính là do mỗi trạm đều thiếu vài chục bản vẽ và số
các bản vẽ tôi có thể báo cáo ngay tại đây nên chúng tôi không thể tiến
hành công việc được. Thủ tướng lại chỉ thị cho Ban quản lý hỏi chuyên
gia ngay xem đúng số liệu các bản vẽ đó thiếu không. Sau 5 phút, chuyên
gia trả lời đúng là thiếu số bản vẽ như ông Sảo đã nêu. Thủ tướng nói
luôn: để thiếu bản vẽ như thế thì lắp máy làm sao tiến hành được công
việc. Cả hội nghị im lặng, tưởng chừng như ngày đóng điện sẽ bị kéo dài
và tiến độ đường dây 500 kv bị phá vỡ. Khi ấy ông Sảo lại bình tĩnh báo
cáo Thủ tướng là nếu sang đầu tuần sau mà chuyên gia có đủ bản vẽ cho
các trạm thì lực lượng lắp máy sẽ tổ chức thi công 3 ca; đồng thời bộ
phận thí nghiệm điện phải xen kẽ với chúng tôi ngay, thì tôi xin hứa
trước Thủ tướng sẽ làm kịp tiến độ, nếu sai cá nhân tôi xin chịu nhận
kỷ luật. Cả hội nghị cùng ồ lên phấn khởi. Thủ tướng vui vẻ nói: vậy
các đơn vị cứ thế làm không được chậm trễ nữa. Kết quả chỉ sau một thời
gian lời hứa của Tổng giám đốc Đào Chí Sảo đã trở thành hiện thực,
đường dây 500 kv được hoà điện ở trạm Đà Nẵng đúng tiến độ đã định. Có rất nhiều điều nữa để nói về kỹ sư Đào Chí Sảo nhưng những thành quả
mà ông đã cống hiến cho ngành lắp máy Việt Nam thì khó có thể viết hết
được. Cả cuộc đời gắn bó với những công trình lắp máy trên toàn quốc,
hơn 18 năm giữ trọng trách Tổng giám đốc và Chủ tịch Hội đồng quản trị
Tổng công ty LILAMA, ông đã chèo lái đưa hàng chục ngàn kỹ sư, thợ lắp
máy Việt Nam vượt lên sự thiếu thốn của nền kinh tế bao cấp, sự khắc
nghiệt của kinh tế thị trường, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Đảng và Nhà
nước giao phó, phát triển LILAMA thành một tổng công ty không chỉ mạnh
về tiềm lực kinh tế, giỏi về trình độ chuyên môn mà còn giàu thực tiễn
kinh nghiệm; đưa LILAMA từ chỗ chỉ là đơn vị đi làm thuê, gia công và
lắp đặt máy thành doanh nghiệp mạnh, đạt trình độ tiên tiến khu vực và
quốc tế, có thể tự chế tạo được 60-70% thiết bị tại những công trình
rất phức tạp trong các nhà máy thuỷ điện, xi măng, khí… với vai trò của
một nhà Tổng thầu. Với những đóng góp to lớn trong hàng ngàn công trình
rải từ Bắc tới Nam, trên các nước bạn Liên Xô, Bungari, Angiêri, Irắc…ở
nhiều lĩnh vực khác nhau như: năng lượng, xây dựng, công nghiệp và hoá
chất, lắp đặt thiết bị cho nhiều nhà máy trong lĩnh vực công nghiệp
nhẹ, công nghiệp thực phẩm, lĩnh vực văn hoá, y tế, thể thao và quân
sự…, ông đã vinh dự được Chủ tịch nước Trường Chinh tặng thưởng Huân
chương Lao động Hạng Ba năm 1985, Chủ tịch nước Võ Chí Công tặng thưởng
Huân Chương Lao động Hạng Nhì năm 1990, Chủ tịch nước Lê Đức Anh tặng
thưởng Huân chương Lao động Hạng Nhì năm 1994, Chủ tịch nước Trần Đức
Lương tặng thưởng Huân chương Lao động Hạng Nhất năm 2000 và rất nhiều
phần thưởng của quý khác của Chính phủ, ngành Xây dựng; 6 bằng lao động
sáng tạo của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam… Đặc biệt, ông là một
trong số rất ít nhân vật nổi tiếng từ khắp các quốc gia trên thế giới
vinh dự được trao bằng khen danh dự suốt đời của Trung tâm nghiên cứu
tiểu sử quốc tế BARONS WHO’S WHO- một nhà xuất bản nổi tiếng chuyên
nghiên cứu và viết tiểu sử các nhân vật nổi tiếng có thành tựu và đóng
góp quan trọng trong các lĩnh vực kinh tế xã hội, khoa học kỹ thuật,
thương mại, công nghiệp, giáo dục, y tế… từ khắp các quốc gia trên thế
giới.
Vũ Trường Xuân - Doanh nhân Việt Nam xưa và nay |