Title_left HỒ SƠ THÀNH TÍCH Title_right
    Tổ chức
Line_short
  Cá nhân
Line_short
 
Zoom
 
No-person-img
Doanh nhân Hà Đình Minh
Ha-thi-thu-thanh
Doanh nhân Hà Thị Thu Thanh
Ho-quoc-luc
Doanh nhân Hồ Quốc Lực
Ho-si-trung
Doanh nhân Hồ Sĩ Trung
Hoang-anh-tuan
Doanh nhân Hoàng Anh Tuấn
Hoang-tinh
Doanh nhân Hoàng Tình
Hoangthetung
Doanh nhân Hoàng Thế Tùng
Huynh-duc-manh
Doanh nhân Huỳnh Đức Mãnh
Nguyen-xuan-mai DOANH NHÂN NGUYỄN XUÂN MAI

NGƯỜI LÀM LÊM CHUYỆN CỔ TÍCH Ở NGỌC ĐỘNG


Như một huyền thoại

Những nơi anh đã từng đi qua đều để lại ấn tượng tốt đẹp cho mọi người. Đến nỗi bà con còn nói, phải đúc tượng “Ông xóa đói giảm nghèo”. Chuyện nghe có vẻ to tát. Nhưng nếu ta nhớ lại câu chuyện Thằng Bờm có cái quạt mo thì mọi chuyện lại trở nên vô cùng dễ lý giải. Bà con nông dân vốn có tư duy đơn giản và đầu óc rất thực tế. Họ không bao giờ tin vào những lời hứa hão kiểu như lão phú ông. Họ chỉ tin vào những gì họ được tận mắt nhìn thấy và đem lại lợi ích thiết thực cho họ. Anh là người đã đem nghề mây tre đan đến cho bà con ở 18 tỉnh miền Bắc và miền Trung, giải quyết công ăn việc làm cho hơn 30.000 lao động với thu nhập từ 500.000 – 1000.000 đồng/người/ tháng.
Câu chuyện về anh cứ lan truyền mãi từ vùng này sang vùng khác. Người làm nên huyền thoại đó là anh Nguyễn Xuân Mai – Giám đốc Công ty Mây tre xuất khẩu Ngọc Động - Hà Nam. Anh là người đã cứu sống cả một làng nghề truyền thống đang bên bờ vực thẳm.
Anh từng là lính của Tiểu đoàn 307, đơn vị anh hùng, từng tham gia 12 trận đánh đồn ở chiến trường miền Tây Nam Bộ, bắt được mấy tên tù binh. Bởi vậy, anh được kết nạp Đảng ngay trong quân đội. Năm 1976, anh xuất ngũ, trở về quê và tiếp tục làm kế toán ở Hợp tác xã song mây Thống Nhất. Trước khi đi bộ đội, anh từng là xã viên ở đây.
Làng nghề mây tre đan truyền thống Ngọc Động – quê anh từng nổi tiếng với việc nuôi sống vài nghìn nhân khẩu. Những năm thời kỳ bao cấp, làng nghề sản xuất theo kế hoạch trên giao. Sản phẩm của làng nghề được xuất sang các nước như Liên Xô (cũ), Ba Lan, Tiệp Khắc, chủ yếu là trả nợ theo nghị định thư. Đó cũng là một thời huy hoàng của làng nghề, sản phẩm làm ra có Nhà nước bao tiêu; gạo, thịt… ăn theo tem phiếu. Cuộc sống như không có gì phải lo nghĩ. Đến năm 1989, thị trường Đông Âu biến động, cơ chế thay đổi. Làng nghề tan tác vì không còn kế hoạch trên giao, vả lại họ cũng không quen với việc tự đi tìm thị trường. Mấy trăm lao động của hợp tác xã chạy tứ tán kiếm ăn trong 2 năm bằng các nghề như làm thuê, buôn bán nhỏ qua ngày…
Không đành lòng nhìn làng nghề truyền thống dần bị mai một, bố anh cùng mấy cụ hưu trí trong làng đã mở ra một tổ hợp, tập hợp bà con lại làm những mong cứu sống làng nghề. Lúc đó tổ hợp làm 2 mặt hàng chính là bàn ghế mây và hàng mỹ nghệ. Mặc dù chưa làm sống dậy làng nghề như mong muốn nhưng tổ hợp như một đốm lửa nhỏ đã được nhen lên. Với vai trò là cố vấn của tổ hợp, anh Mai trăn trở tìm lối thoát. Nhờ có mối quan hệ với các cán bộ ở Tổng Công ty mây tre đan xuất khẩu, anh đến đặt vấn đề làm thẳng với họ không qua trung gian nữa. Vì thế, anh đã mở được thị trường Đài Loan, tổ hợp có thêm việc làm thường xuyên hơn. Bà con bắt đầu cảm thấy tin tưởng ở anh, họ đổ xô đến nhận hàng làm cho tổ hợp. Nhiều người sợ mất phần còn chen lấn xô đẩy làm đổ cả bàn ghế. Anh nói rằng, anh vào thị trường Đài Loan không phải chỉ để kiếm tiền mà anh còn học được toàn bộ cung cách làm ăn của họ. Đúng lúc này anh vấp ngay phải sự phản ứng quyết liệt của địa phương. Người ta cho rằng, việc ấy chỉ có hợp tác xã mới có quyền làm, hơn nữa anh Mai lại là đảng viên không được làm kinh tế tư nhân, như vậy là bóc lột… Nhưng với tầm nhìn xa, trông rộng, quyết tâm khôi phục làng nghề, anh bỏ qua mọi “lời ong tiếng ve”. May thay, anh vẫn được một số người có tư tưởng tiến bộ ở địa phương hậu thuẫn. Vì vậy, đến năm 1995, thị trường tiếp theo là Nhật Bản đã được mở.
Chính ở thị trường mới này đã cho anh một bài học đầu tiên về vệ sinh công nghiệp. Trong một lô hàng xuất khẩu sang Nhật, chẳng may có một khách hàng đụng vào bị đứt tay. Người Nhật vốn khắt khe, lập tức vị khách hàng nọ bèn lấy bông thấm máu ở tay mình gói lại, cho vào phong bì rồi gửi về cho anh Mai. Anh thực sự biết ơn người khách nọ vì đã cho anh hiểu ra một điều rằng, dù hàng của anh làm ra có đẹp và đúng tiêu chuẩn nhưng không an toàn cho người sử dụng thì vẫn còn khiếm khuyết.
Những năm tiếp theo, anh mở thị trường sang các nước Châu Âu như Đức, Pháp, Hà Lan, Thụy Điển… ở thị trường này khách hàng đòi hỏi sản phẩm phải có thêm màu sắc đẹp và mùi thơm. Vậy là vẫn tiếp tục phải hoàn thiện nhiều hơn nữa. Đến lúc này anh đã có cơ sở vững chắc để tin rằng làng nghề sẽ sống.

Đầu tư công nghệ vào sản xuất

Trước những đòi hỏi ngày càng khắt khe của thị trường, anh Mai đã tập trung đầu tư công nghệ vào sản xuất. Các loại khuôn cốt được làm ra để đan sản phẩm có độ chính xác cao. Các máy chẻ và vót nan cũng được đầu tư nhằm tăng năng suất và độ nuột nà cho sản phẩm. Một loạt các máy sấy nguyên liệu, nồi hơi, nồi luộc nhuộm màu, lò hấp tạo carbon ở nhiệt độ cao giúp cho sản phẩm vừa cứng vừa có màu nâu quyến rũ và mùi thơm tuyệt vời. Với công nghệ này, những nguyên liệu bình thường và sẵn có ở Việt Nam như: bèo tây, bẹ và dọc lá chuối… cũng trở thành những vật dụng thật dễ thương. Công ty cũng đã đầu tư một dây chuyền làm sản phẩm tre công nghiệp. Các tấm phên nứa qua công đoạn ép, sấy cao tần sẽ cho ra nguyên liệu để làm ván sàn, mặt ghế, mặt bàn… Hiện nay công ty đã có hợp đồng sản xuất ghế tàu điện ngầm xuất khẩu bằng nguyên liệu này.
Ngoài những sản phẩm truyền thống bằng mây, tre, công ty còn có một loại sản phẩm độc đáo hiện nay chưa có đối thủ cạnh tranh là mây xiên. Các sợi mây được đan xiên liên kết với các nan giang tạo cho sản phẩm có độ bền vững rất cao mà không cần đến khuôn cốt, không biến dạng ở mọi điều kiện thời tiết. Từ mây xiên, công ty đã sản xuất ra các sản phẩm đa dạng như: Va ly, khay, đĩa, lọ hoa, làn… phải lên đến vài trăm mẫu mã theo yêu cầu của khách hàng. Thậm chí có những chiếc thạp lớn cao gần bằng người lớn có độ cứng rất cao, ngồi lên không bẹp, đập xuống nền nhà không méo. Để làm được sản phẩm này phải là nghệ nhân có tay nghề cao.

Một phương thức quản lý độc đáo

Thị trường mở rộng, sản xuất phát triển thì nhân lực là vấn đề sống còn của công ty. Vượt ra khỏi hình thức sản xuất của một làng nghề, công ty đã tạo ra cho mình những vệ tinh ở nhiều tỉnh khác. Đây là một việc làm mang tầm chiến lược cao và đầy sáng tạo, bắt đầu từ việc dạy nghề, sau đó là bán nguyên liệu và mua sản phẩm. Cách làm này cũng có thể nói là có một không hai. Ban đầu, công ty liên kết với các địa phương, các tỉnh bạn mở các lớp dạy nghề cho người lao động theo các dự án xóa đói giảm nghèo. Khi tham gia vào các lớp này, người lao động không phải nộp học phí mà còn được hưởng lương với mức từ 300-400 nghìn đồng/người/tháng. Sau khi học nghề, người lao động có ngay công ăn việc làm bằng cách sản xuất hàng cho chính công ty. Để người lao động có trách nhiệm cao với sản phẩm của mình, công ty áp dụng phương thức bán nguyên liệu đã được chế biến cho họ, sau đó thu mua toàn bộ sản phẩm thô theo đơn đặt hàng. Người lao động sẽ được hưởng thành quả đúng như khả năng của mình. Điều đó đã tạo nên mối quan hệ tương tác bền vững.
Anh Mai cho biết: “Những giám đốc quản lý lao động là nông dân mà không biết chi tiền vào những thời điểm hợp lý, nhạy cảm thì bỏ đi”. Vì vậy, công ty đã thiết lập một phương thức thanh toán khoa học. Giá tiền công không phân biệt, nếu ở xa thì được cộng thêm tiền công vận chuyển. Sau khi giao hàng xong, người lao động được thanh toán ngay 60% tổng giá trị, số còn lại công ty sẽ thanh toán nốt vào ngày 15 tháng sau. Vào các thời điểm nhạy cảm như: lễ, tết, giỗ chạp, thi cử… người lao động sẽ được thanh toán tiền công một lúc hoặc có thể ứng trước nếu có khó khăn. Đây là điều hiếm thấy ở lao động nông thôn.

Chiến lược phát triển lâu dài

Năm 2005, công ty đã tiến chân vào thị trường Mỹ, một thị trường được xem là khó tính, với hợp đồng đầu tiên trị giá 200.000 USD. Đây mới chỉ là bước khởi đầu. Anh Mai cho biết, thị trường nòng cốt trong những năm tiếp theo của công ty là Mỹ và EU. Công ty có đủ tự tin và tiềm lực để đáp ứng nhu cầu khắt khe của các thị trường này, thậm chí có thể nhận những đơn hàng lớn mà không có doanh nghiệp nào trong nước dám nhận. Hiện nay, công ty đã đáp ứng được đơn hàng lên đến 800.000 USD. Đó là điều không tưởng trong làng mây tre đan Việt Nam.
Để chuẩn bị cho việc tiến sâu hơn vào thị trường Mỹ một cách chắc chắn, có bài bản với mục tiêu xuất khẩu trực tiếp từ 80-90%, anh đã cho cậu con trai thứ hai, vừa học xong Đại học Ngoại thương sang Mỹ học. Anh cho biết, hiện nay lãi xuất trực tiếp của công ty chỉ đạt 12%. Trong khi đó một khách hàng của công ty là một công ty ở Mỹ tiêu thụ sản phẩm của Ngọc Động thu về lợi nhuận đến… 500%. Đó là một điều bất hợp lý không thể chấp nhận được. Anh sẽ cố gắng hạn chế bớt sự bất hợp lý đó. Hiện nay, anh đã làm được một việc là gắn con tem có chữ Made in Vietnam vào các thùng sản phẩm xuất sang Mỹ. Điều này nhiều công ty trong nước không làm được, chấp nhận mất thương hiệu, làm gia công cho nước ngoài.
Những năm tiếp theo, anh phấn đấu đưa công ty trở thành một công ty mạnh về mọi mặt. Mặt bằng nhà xưởng, công nghệ được trang bị hiện đại cho quy mô làm ăn lớn để đưa giá trị doanh thu đến năm 2010 đạt gần 700 tỷ đồng, có đội ngũ lao động chuyên nghiệp lên đến 500 người, với thu nhập bình quân là 1,2 triệu đồng/tháng; lao động không thường xuyên ở 20 tỉnh là 50.000 người, trong đó tỷ lệ chuyên nghiệp là 40-50%. Xây dựng thương hiệu của công ty thành thương hiệu mạnh trong làng mây tre Việt Nam và trên thế giới, đủ sức gia nhập WTO.

Kim Thanh - Doanh nhân Việt Nam xưa & nay