ANH BA LÀNG NGHỀ
Khởi đầu với nghề điện, làm tới phó giám đốc Sở Điện lực Hà Tây rồi được cử sang làm giám đốc Sở Công nghiệp và bắt đầu những năm tháng nghỉ hưu lại gắn bó với các làng nghề, Doanh nhân Nguyễn Xuân Ba quả là người đa tài. Ông đã được Bộ trưởng Bộ Công nghiệp Đặng Vũ Chư gọi là “anh Ba làng nghề”, mà ở nghề nào ông cũng đóng góp được nhiều ý tưởng sáng tạo. Nguyễn Xuân Ba sinh năm 1942 tại Yên Trường, Trường Yên, Hà Tây. Năm 1959, khi mới 17 tuổi, anh vào làm công nhân Nhà máy cơ khí Trần Đăng Ninh tại thị xã Hà Đông. Tuy còn ít tuổi nhưng với tay nghề vững vàng, năm 1965 anh đã vinh dự được bầu chọn là chiến sỹ thi đua của tỉnh. Cùng trong năm đó, với quyết tâm và niềm khát khao học lên cao hơn nữa, anh đã thi đỗ vào Đại học Bách khoa. Ban đầu anh học ngành vô tuyến điện nhưng 3 tháng sau lại xin sang học ngành tự động hoá vì say mê hình ảnh cánh tay robot được chiếu trên phim. Sau khi tốt nghiệp, anh về công tác tại Trung tâm thí nghiệm điện và là kỹ sư đi hiệu chỉnh ở các nhà máy nhiệt điện trên toàn miền Bắc. Là người gắn bó với quê hương, năm 1979 anh xin về công tác tại Sở Điện lực Hà Tây. Khi đó, lưới điện ở Hà Tây đã cũ, chắp vá nhiều nên thường xuyên xảy ra mất điện từ 1 tuần tới 15 ngày nhưng anh đều giải quyết tốt các tình huống. Bởi thế, anh được tin tưởng giao cho các chức vụ: phân xưởng trưởng cơ điện, phó phòng kỹ thuật kế hoạch, trưởng phòng kinh doanh điện và sau đó được bầu làm phó giám đốc sở phụ trách kinh doanh. Trong thời gian công tác tại Sở Điện lực, phụ trách về kinh doanh, Phó Giám đốc Nguyễn Xuân Ba rất quan tâm đến việc hạ giá điện ở khu vực nông thôn. Có một điều bất hợp lý tồn tại khá lâu là những nông dân có thu nhập thuộc diện thấp nhưng lại phải chịu mức giá điện sinh hoạt rất cao, cao hơn mức giá do Nhà nước quy định. Đây không phải do các chi nhánh điện bán giá cao mà do lượng điện năng thiếu hụt nhiều ở các công tơ gia đình so với lượng điện của công tơ tổng mà xã mua của các chi nhánh điện. Nguyễn Xuân Ba đã chỉ ra nguyên nhân của hiện tượng này chủ yếu là do lưới điện bất hợp lý, không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, thiếu thiết bị đo đếm và đo đếm không chính xác, công tác quản lý điện còn lỏng lẻo… Để đưa ra giải pháp khắc phục tình trạng trên, Anh đã có bài viết về vấn đề này trên báo Hà Tây để công luận cùng đánh giá và xem xét. Đây không chỉ là tấm lòng tâm huyết với nghề mà còn là tình cảm anh dành cho những người nông dân hai sương một nắng, vất vả cực nhọc mới kiếm được đồng tiền mà còn phải gánh chịu những thất thoát, lãng phí không do mình gây ra. Sau 20 năm gắn bó với ngành điện, năm 1992, Nguyễn Xuân Ba được bầu làm Tỉnh uỷ viên và được cử sang làm giám đốc Sở Công nghiệp. Khi về nhận công tác thì trụ sở của Sở Công nghiệp còn là nhà cấp bốn, mọi người còn phải dùng nước giếng và giám đốc đi giao dịch bằng xe U oát. Đây là thời kỳ hết sức khó khăn bởi khi đó cả nước mới bắt đầu công cuộc đổi mới được vài năm, còn tỉnh Hà Tây thì hầu như chưa hoà nhập được vào đổi mới. Trước tình hình đó, nhiều người không tin rằng anh có thể trụ vững tại đây, có người nói với anh rằng “Vui thì ông ở, dở thì ông đi”. Mang trong mình truyền thống cách mạng của gia đình với người cha là Trưởng Ty Nông lâm nghiệp và cũng là Tỉnh uỷ viên, Nguyễn Xuân Ba quyết không đầu hàng những khó khăn. Anh quyết tâm phát triển ngành công nghiệp của Hà Tây, Nguyễn Xuân Ba đã đặc biệt quan tâm tới việc phát triển các làng nghề truyền thống bởi đây là thế mạnh của Hà Tây và là giải pháp để phát triển công nghiệp nông thôn. Anh đã cùng Sở Công nghiệp Hà Tây điều tra, khảo sát và nghiên cứu 88 làng nghề Hà Tây và ở một số tỉnh khác như Bắc Ninh, Ninh Bình để đưa ra những tiêu chí cho một làng nghề. Theo đó, thứ nhất, một làng nghề phải có số hộ và lao động quy làm nghề CN – TTCN ít nhất đạt từ 50% trở lên so với tổng số hộ và lao động của làng. Thứ hai, giá trị sản xuất và thu nhập từ sản xuất CN – TTCN ở làng phải đạt trên 50% tổng giá trị sản xuất và thu nhập của làng trong năm. Thứ ba, có tổ chức phù hợp với tình hình thực tế của địa phương mang tính tự quản được pháp luật thừa nhận. Thứ tư, tên làng nghề, nếu là làng nghề truyền thống, cổ truyền còn tồn tại và phát triển thì lấy nghề đó đặt cho tên làng; nếu làng nghề có nhiều nghề phát triển thì sản phẩm nghề nào phát triển nhất được đặt cho tên làng. Anh cũng đưa ra ý tưởng để duy trì và phát triển làng nghề thì trong làng nghề phải có ông chủ, tức là những người có tiền đầu tư nguyên liệu để nhân dân gia công bởi người dân nhìn chung còn nghèo, không phải ai cũng có tiền đầu tư sản xuất. Mô hình này đã được Hà Tây áp dụng và sau đó nhân rộng ra cả nước một cách thành công. Nếu như năm 1996 toàn tỉnh Hà Tây mới có 839 làng có nghề CN - TTCN, trong đó có 88 làng đạt làng nghề tiêu chuẩn của tỉnh thì đến năm 2000 toàn tỉnh đã có 972 làng có nghề, trong đó 120 làng đạt tiêu chuẩn làng nghề. Sự tồn tại và phát triển của làng nghề góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong tỉnh. Nông nghiệp giảm từ 48 % xuống còn 41 %, CN – TTCN tăng từ 25,3 % lên 30,5 % vào năm 2000. Đồng thời, Nguyễn Xuân Ba cũng rất chú trọng đến việc tìm các giải pháp khác để công nghiệp hoá nông nghiệp Hà Tây. Anh đưa ra giải pháp kết hợp du lịch với sản xuất CN – TTCN tạo thành du lịch làng nghề, vừa kích thích ngành du lịch vừa phát triển được làng nghề. Sản phẩm của các làng nghề đã được xuất khẩu sang nhiều nước, như Làng nghề Vạn Điểm (Thường Tín) sản xuất sản phẩm sơn mài, mỹ nghệ xuất khẩu sang Nga, Mỹ, Ba Lan; Làng nghề Nhị Khê (Thường Tín) sản xuất sản phẩm gỗ, xương, sừng tiện xuất khẩu sang Nga, Mỹ, Italia; Làng nghề Vạn Phúc (Hà Đông) với sản phẩm lụa nổi tiếng đã đi vào cả thơ ca cũng được uất khẩu sang nhiều nước trên thế giới… Dựa trên danh tiếng các đặc sản của làng nghề cùng với những danh lam thắng cảnh, những lễ hội truyền thống, ngành du lịch của Hà Tây càng có thêm đà phát triển. Để tiếp tục duy trì và phát triển làng nghề, Nguyễn Xuân Ba đã đề nghị với Tỉnh uỷ, UBND tỉnh cần có chính sách khuyến công nhằm giúp một phần kinh phí cho các làng nghề nông thôn. Đây là một điểm rất mới bởi xưa nay ở nước ta có truyền thống khuyến nông chứ chưa có khuyến công. Bởi thế, lúc đầu tỉnh không đồng ý và chất vấn ông rất nhiều. Họ còn nói: “Ông làm gì mà lúc nào cũng đề nghị tỉnh cho tiền khuyến công và cho chúng tôi biết khuyến công là gì?” “Quả thực lúc đầu mình rất bí vì chưa nghiên cứu kỹ về khuyến công, nhưng lúc đó mình đã trả lời một cách liều lĩnh: Khuyến công là tạo ra một cái gì đó để giúp cho khu vực nông thôn và các nghề ở nông thôn phát triển được” Nguyễn Xuân Ba nói. Và phải mất hơn một năm tìm tòi, nghiên cứu và cuối cùng Giám đốc Nguyễn Xuân Ba đã chứng minh được việc cần có chính sách khuyến công là đúng đắn, và được tỉnh chấp nhận. Để làm được điều đó, anh đã đưa ra 8 giải pháp để thực hiện khuyến công, bao gồm: - Giải pháp dùng khuyến công để hỗ trợ truyền nghề, nhân cấy nghề, bao gồm cả nghề truyền thống và nghề mới. - Giải pháp khuyến công về đất đai: Giúp các nhà doanh nghiệp có mặt bằng để đầu tư công nghệ mới, thiết bị mới đảm bảo về số lượng và chất lượng sản phẩm, đảm bảo sự cạnh tranh cao hơn. - Giải pháp về khuyến công hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư thiết bị, công nghệ mới để có sản phẩm tốt hơn. - Giải pháp khuyến công hỗ trợ về tài chính, tín dụng để làm giảm bớt khó khăn cho doanh nghiệp. - Giải pháp về tìm kiếm thị trường cho các nhà doanh nghiệp, các làng nghề CN – TTCN - Giải pháp về vấn đề xử lý môi trường sinh thái. - Giải pháp về khoa học công nghệ. - Giải pháp về chăm lo vật chất, tinh thần, thi đua khen thưởng. Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh Hà Tây đồng ý sử dụng ngân sách trong 4 năm (1999- 2002) để tạo quỹ khuyến công, thúc đẩy ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển mạnh mẽ. Trong chương trình khuyến công này, chính Nguyễn Xuân Ba là người đã đề ra ý tưởng về cụm, điểm công nghiệp. Ban đầu nhiều người không chấp nhận khái niệm này bởi chỉ thấy nhà nước có khu công nghiệp, khu chế xuất chứ không thấy có cụm, điểm công nghiệp. Anh làm chủ đề tài nghiên cứu về vấn đề này, phối hợp với Viện nghiên cứu chính sách công nghiệp, Bộ Công nghiệp để lý giải thế nào là cụm, điểm công nghiệp và đưa ra giải pháp xây dựng các cụm, điểm công nghiệp sao cho có hiệu quả. Từ năm 2002, sau khi nghỉ hưu, Nguyễn Xuân Ba đã thành lập Công ty TNHH Yên Trường, tập hợp được nhiều nhà kỹ thuật, kinh tế giỏi để giúp các doanh nghiệp các mặt họ còn thiếu như: tư vấn thành lập doanh nghiệp, tư vấn xuất khẩu, làm quy hoạch cho các huyện về kinh tế - xã hội tới năm 2010, quy hoạch về điện đến năm 2015, tư vấn đất đai, viết dự án cho người nước ngoài vào tỉnh đầu tư… Từ năm 2005 Nguyễn Xuân Ba là Chủ tịch Hội sản xuất kinh doanh thủ công mỹ nghệ. Ông đã được Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tặng 04 bằng Lao động sáng tạo, Chủ tịch nước trao tặng Huân chương Lao động hạng Ba. Ngành Công nghiệp Hà Tây cũng được tặng Huân chương Lao động hạng Ba. Bề dày thành tích không làm ông tự thoả mãn với mình mà lúc nào cũng sẵn sàng với các ý tưởng mới. Hiện nay ông đang chuẩn bị đề nghị tỉnh cho làm phòng trưng bày các mặt hàng thủ công mỹ nghệ tại vườn hoa của tỉnh. Biết đâu trong tương lai “Anh Ba làng nghề” sẽ tiếp tục sáng tạo trong nhiều nghề nữa.
Việt Hòa - Doanh nhân Việt Nam xưa & nay |